Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Măng chua núi Cấm

Sống trên núi Cấm (Tịnh Biên, An Giang), bà con sơn dân đã tận dụng đất rừng trồng tre mạnh tông xen kẽ cây ăn trái, từ đó mà có loại măng tre nổi tiếng của vùng núi. Đặc biệt, măng tre muối chua được chế biến thành nhiều món ngon.

Vào tháng 4 Âm lịch hằng năm, khi có vài đám mưa lớn thì bà con bắt đầu thu hoạch măng, có gia đình thu hoạch được 700 – 1.000kg một đợt, thậm chí lúc rộ măng còn thu hoạch tới cỡ 2.000kg một đợt.
Do vậy mà giá măng tươi núi Cấm giảm dần theo vụ mùa. Đầu mùa mưa (khoảng tháng 5 – tháng 6) thường có giá 18.000 - 20.000 đồng/kg; lúc măng rộ (cuối tháng 7) rớt xuống chỉ còn 2.500 - 3.000 đồng/kg. Lúc giá măng xuống thấp, các vựa thu mua măng chuyển sang làm măng chua để dự trữ bán trong năm.

< Mụt măng được bóc vỏ, gọt sạch trước khi xắt mỏng để ngâm chua.

Quy trình làm măng chua như sau (theo lời bà chủ vựa): măng tươi để nguyên mụt rồi lột vỏ, dùng dao gọt sạch sẽ và bào thành từng lát mỏng, ngâm trong nước có quậy muối cùng nước vo gạo để măng được trắng.
Dulichgo
Bà con núi Cấm làm hai loại măng chua để vừa có sản phẩm bán ngay vừa có măng dự trữ bán quanh năm. Măng bán ngay được ngâm nước muối lạt, bỏ bọc từng kg, rồi dồn thành bọc 10kg giao cho bạn hàng; măng ăn liền có giá 12.000 đồng/kg.

Măng được ngâm trong lu, trong kiệu, trong phi: mỗi lu 130kg, kiệu 150kg và phi 160kg. Khi ngâm phải đậy kín không cho không khí lọt vào để măng khỏi bị thâm.

< Măng ngâm chua để dự trữ bán quanh năm.
Dulichgo
Trung bình mỗi năm bà chủ vựa dự trữ khoảng 6 tấn măng chua. Măng chua giòn, vị chua đậm đà, có thể ăn kèm với món ăn như rau hoặc dùng như nguyên liệu để chế biến nhiều món: canh chua, xào…

Du khách đến với Thiên Cấm sơn, sau khi tham quan vẻ đẹp hùng vĩ, phong cảnh hữu tình của núi rừng cùng nhiều danh lam thắng cảnh như chùa Phật Lớn (với tượng phật Di Lặc cao 33,6m), hồ Thủy Tiên, chùa Vạn Linh…, thường không quên mang về đặc sản măng chua của núi Cấm.

Theo THỤY CHÂU/DNSGCT
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Mùa hạt dẻ về

(TTO) - Mùa này nếu có dịp lên vùng cao Tứ Sơn (Lục Nam, Bắc Giang), bạn sẽ có trải nghiệm thú vị: cùng bà con nơi đây nhặt những hạt dẻ đen nhánh, đặc sản từ những cánh rừng bạt ngàn.

< Bạt ngàn cánh rừng dẻ.

Khu vực Tứ Sơn bao gồm 4 xã Vô Tranh, Trường Sơn, Bình Sơn, Lục Sơn, là một trong những xã vùng cao của tỉnh Bắc Giang. Địa hình chủ yếu là đồi núi, cuộc sống còn muôn vàn khó khăn nhưng từ những mảnh đồi cằn cỗi, thiên nhiên đã ưu đãi cho mảnh đất này những sản vật ít nơi nào có được, những sản vật mang đậm hương vị nắng gió vùng cao. Và hạt dẻ chính là một trong những sản vật đó.

< Cây dẻ.

Với người dân nơi đây, mỗi khi thu về ngang qua các cánh rừng dẻ, bất chợt nhìn thấy những hạt dẻ đen nhánh nằm trên lớp lá mục, ngẩng lên thấy những những chiếc gai dẻ đang “mở miệng cười”, như vậy là đã biết rằng một mùa hạt dẻ nữa lại về.

Cùng chẳng biết những cây dẻ có mặt trên mảnh đất này từ bao giờ, lũ trẻ tôi chỉ biết ông bà xưa hay kể chính những hạt dẻ là thực phẩm cứu đói và những cánh rừng dẻ cũng là nơi sơ tán, trú ẩn cho bộ đội và nhân dân trong những năm kháng chiến ác liệt. Cứ thế cho đến bây giờ, những cây con lại nối tiếp mọc lên thay những cây đã già cỗi và nơi đây vẫn duy trì được những cánh rừng bạt ngàn hiếm nơi nào có được.
Dulichgo
Cây dẻ thuộc loại cây thân gỗ, có những cây già một vòng tay người lớn ôm không hết. Cây dẻ ra hoa vào mùa đông năm trước. Những chùm hoa li ti màu trắng bao trùm khắp các cánh rừng và rồi từ những bông hoa đó qua nhiều tháng trở thành quả. Những hạt dẻ được bao bọc bởi một lớp vỏ ngoài sần sù, gai góc. Đến tận thu năm sau mới chuyển từ màu xanh sang nâu. Khi đó hạt dẻ đã già, lớp vỏ gai ngoài đã chuyển sang màu vàng, chúng bắt đầu bung ra và những hạt dẻ rơi xuống đất.
Đó là khi người dân rủ nhau lên rừng nhặt hạt dẻ.

< Những chùm hoa dẻ sai trĩu.

Chuẩn bị vào mùa dẻ, người dân nơi đây lại dọn dẹp, phát quang các khu rừng để công việc nhặt hạt dẻ trở lên dễ hơn. Nhặt hạt dẻ không phải là công việc nhàn hạ đối với người dân nơi đây. Họ phải dậy nhặt từ tờ mờ sáng đến khi mặt trời bắt đầu xuống núi, tỉ mẩn ngồi bới từng lớp lá mục nhặt những hạt dẻ trốn đâu dưới lớp thảm thực vật dày.

Nhiều hạt vẫn chưa chịu chui ra khỏi lớp vỏ ngoài, lại tỉ mẩn bóc tách những lớp gai cứng bên ngoài để lấy những hạt dẻ bên trong, dù khéo mấy vẫn bị gai đâm vào tay đau buốt. Những vết thâm tím nhỏ li ti trên những ngón tay cứ đến mùa này lại xuất hiện.

< Hạt dẻ rơi lấp ló trên những thảm lá mục.

Mùa dẻ về, cả người già và trẻ con khi được nghỉ học cũng lên rừng nhặt dẻ phụ giúp bố mẹ. Những cánh rừng trở lên huyên náo và nhộn nhịp hơn bởi những tiếng nói cười, tiếng gọi nhau í ới của mọi người.
Dulichgo
So với hạt dẻ Trùng Khánh thì hạt dẻ ở đây có thể kém hơn về kích thước nhưng hương vị đậm đà khó có thể nào quên. Hạt dẻ chỉ bé bằng đầu đũa, to lắm chỉ nhỉnh hơn chút ít. Nhưng hạt dẻ nhặt về được thương lái đến thu mua và mang đi tiêu thụ ở khắp các tỉnh thành trong nước.

< Người dân cần mẫn bên những cánh rừng.

Hạt dẻ là món ăn vặt vô cùng chuộng đối với người dân miền Bắc khi đông về. Thích hợp và đơn giản nhất là cho lên răng. Hạt dẻ đãi trong nước sạch loại bỏ những hạt hỏng, hạt nổi, sau đó cho vào chảo gang rang trên bếp lửa.
Dulichgo
Rang dẻ cũng đòi hỏi người rang phải khéo, điều chỉnh nhiệt độ sao cho đều, nếu rang kỹ quá dẻ sẽ bị cứng khó ăn. Hạt dẻ rang đạt là những hạt dẻ đã nứt vỏ, nhân có mùi thơm và khi ăn thì dẻo. Dẻ cũng có thể tách nhân nấu xôi hoặc nấu cháo, mỗi món lại có một hương vị riêng.

< Thành quả sau một buổi sớm.

Những cây dẻ ở đây không cần chăm bón, cứ thế lớn lên, cứ lớp cây này nối tiếp lớp cây kia tạo thành những rừng dẻ ngút ngàn và mang lại hiệu quả kinh tế cao, bà con nơi đây gọi dẻ là “cây vàng” cũng vì vậy.

Vào những ngày này nếu có dịp ghé thăm mảnh đất vùng cao này, bạn nhớ cùng người dân nơi đây đi nhặt hạt dẻ đen óng sẽ có một trải nghiệm thật khó quên. Và chắc chắn rằng buổi tối bạn sẽ được chủ nhà thiết đãi một chảo hạt dẻ rang thơm lừng bên bếp lửa. Những nhân hạt dẻ dẻo thơm quyện cùng với ấm áp của tình người vùng cao thật khó quên…

Theo H.Hân (Du lịch Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

Săn mây tại làng chè trăm tuổi ở Đà Lạt

Thăm làng chè Cầu Đất gần 100 tuổi đời là một trải nghiệm rất khác và đáng nhớ ở thành phố hoa Đà Lạt.

< Đồi chè Cầu Đất buổi bình minh.

Thức dậy từ sáng sớm, sau khi thưởng thức ly cà phê cho ấm người, nhóm bạn trẻ mê nhiếp ảnh di chuyển theo hướng Trại Mát. Đà Lạt sáng sớm lạnh đến từng hơi thở, xe leo dốc, đổ đèo mà sương mù ùa vào tay lái. Những vạt dã quỳ lấm tấm hoa vàng, vườn hồng sai quả khiến người lữ hành thấy buổi sáng cao nguyên bớt lạnh lẽo hơn.

< Dù thời tiết rất lạnh, đồi chè Cầu Đất thu hút nhiều người mê nhiếp ảnh.

Sau gần 30 km, vùng chè Cầu Đất (xã Xuân Trường) hiện dần ra với một màu xanh ngát trải dài trên những ngọn đồi nối tiếp nhau. Vùng này ở độ cao trên 1.600 m so với mặt nước biển, bởi vậy quanh năm khí hậu lạnh và sương mù bao phủ.
Dulichgo
Nơi đây gắn liền với các gia đình theo truyền thống trồng chè lâu đời, làm nên thương hiệu chè Cầu Đất trứ danh.

Với môi trường thiên nhiên trong lành, nhiệt độ mát lạnh, quanh năm sương mù, cây chè Cầu Đất hấp thụ được tinh khí của trời đất nên lá có những tố chất vượt trội so với các loại chè trồng ở những vùng khác. Chè Cầu Đất được người Pháp chế biến đưa về nước và xuất khẩu sang một số nước châu Âu cách đây gần 90 năm.

Mặt trời vẫn chưa lên, làn sương mù dày đặc dần dần nhường chỗ cho những đám mây trắng lơ lửng trên đồi. Nhóm người dừng xe ở một bãi đất trống rồi vác đồ đạc lỉnh kỉnh, mỗi người tìm mỗi góc để săn mây.

Mới ở góc này thấy khối mây chờn vờn rất đẹp mà chạy lên điểm cao hơn để chọn góc chụp thì mây đã bị gió lùa đi mất, đúng là săn mây! Theo hướng gió mà tìm mây, săn những khoảnh khắc tuyệt đẹp của thiên nhiên, len lỏi giữa những luống chè còn đọng sương sớm, thấy mình thật nhỏ bé giữa cảnh sắc bao la nơi đây.
Dulichgo
Khi mặt trời lên, những đọt chè xanh tươi vươn mình đón nắng. Đồi chè ngút ngàn hiện rõ hơn trong tầm mắt. Đâu đó vài cây chè “cô đơn” vươn lên cao vút giữa những luống chè đều xăm xắp. Một màu xanh bạt ngàn trải dài tới tận đường chân trời. Khi những người công nhân len mình vào các luống chè cũng là lúc cuộc sống nơi làng chè trăm tuổi trở về nhịp bình thường của nó.

Những người  săn ảnh chia tay đồi chè, nắng làm tay không còn run run vì lạnh nữa, tâm trí họ ngập tràn màu xanh miên man.

Cầu Đất cách trung tâm thành phố Đà Lạt 22 km theo hướng đông nam. Bạn đi đường Trần Hưng Đạo - Hùng Vương, ra đến quốc lộ 20 và theo bảng chỉ dẫn lên Trại Mát, chạy thẳng đến thôn Xuân Trường, và hỏi đường đến đồi chè thuộc Công ty cổ phần trà Cầu Đất.

Nếu cần thuê xe máy để di chuyển từ Đà Lạt, hãy hỏi tại các điểm gần chợ Đà Lạt, đường Bùi Thị Xuân, Phan Bội Châu… với khoảng mỗi ngày 80.000 đồng xe số hoặc 100.000 đồng xe tay ga.

Thời tiết sáng sớm ở Cầu Đất khá lạnh, bạn nhớ mang đủ áo ấm, cẩn thận với các thiết bị điện tử kẻo bị sương đọng nước. Sau khi tham quan, bạn trở lại đường lớn, có các hàng quán mì Quảng, bún bò... của người dân Xuân Trường bán với giá khoảng 20.000 đồng một tô.

Theo Má Lúm (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Tham quan đồi trà Cầu Đất

Làng nghề làm khuôn bánh trung thu

(LĐO) - Về thôn Thượng Cung (xã Tiền Phong, huyện Thường Tín, Hà Nội) những ngày giáp Tết Trung Thu sẽ cảm thấy không khí như nhộn nhịp hơn bởi những tiếng gõ, đục đẽo từ một số gia đình đang làm khuôn bánh nướng, bánh dẻo truyền thống. Từ xa xưa, làng Thượng Cung đã nổi tiếng với nghề mộc truyền thống, đồng thời cũng là nơi giữ gìn được nghề làm khuôn bánh trung thu của người xưa để lại.

Làng nghề mộc truyền thống

Thượng Cung có truyền thống làm nghề mộc từ xa xưa, hỏi ra không biết chính xác là bao nhiêu năm. Nhưng trong tiềm thức của người dân nơi đây, nghề mộc đã trở thành một phần không thể thiếu, vừa là nghề, vừa là nghiệp. Trẻ con sinh ra đã được nuôi dưỡng niềm đam mê với những thanh gỗ, những hoa văn, những nét đẹp tỉ mẩn.

Nghề làm khuôn bánh trung thu ở Thượng Cung đã có từ xa xưa. Mấy năm trở lại đây, khuôn nhựa được sản xuất nhiều, làng nghề bớt nhộn nhịp hơn. Hiện tại, Thượng Cung chỉ còn 3 gia đình còn giữ nghề làm khuôn bánh, phần lớn họ khắc đẽo 12 con giáp, làm đồ gỗ.

Gia đình ông Trần Văn Bản là một trong những hộ còn giữ được truyền thống nghề. “Gia đình tôi là thợ lâu năm ở làng, khuôn bánh chúng tôi làm ra bán khắp các cơ sở sản xuất bánh trung thu của cả nước” - ông Bản cho biết.

Công phu người tạo hình cho bánh

Sau một thời gian những thứ bánh được làm theo dây chuyền lên ngôi thì hiện nay phần lớn người dân quay lại tin dùng sản phẩm có giá trị truyền thống. Vì vậy, vài năm gần đây nghề làm khuôn bánh dẻo, bánh nướng cũng có thể tồn tại và phát triển, trở thành một nghề truyền thống rất độc đáo ở Hà Nội.
Dulichgo
Việc làm khuôn bánh tốn nhiều thời gian và các công đoạn đều đòi hỏi sự khéo tay. Công đoạn đầu tiên người thợ phải cưa cắt gỗ theo hình dáng khuôn bánh. Gỗ được dùng để làm khuôn là gỗ thị hoặc xà cừ. Lý do chọn 2 loại gỗ này là vì bền, dễ đục đẽo và ít mối mọt, giá thành gỗ cũng hợp lý. Sau khi chọn gỗ và cưa thành từng phần, công đoạn tiếp theo dùng các đục chuyên dụng để tạo hoa văn trên khuôn. Phần cán cầm phải dùng máy tiện tròn để người thợ làm bánh có thể cầm chắc tay.

Nói thì đơn giản vậy, nhưng khuôn đẹp hay xấu phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng người thợ, vì chỉ cần đục hơi sâu hay nông đi một chút là tạo hình hoa văn đã khác đi nhiều. Những khuôn bánh hình con thú như hình cá, heo, rồng… chỉ cần thiếu chút tinh tế là chiếc bánh thành phẩm sẽ thiếu sức sống và nhìn không bắt mắt.

“Để làm được nghề này cần có sự yêu thích, đam mê. Nó đòi hỏi rất tỉ mỉ, từ việc cắt khuôn hình sao cho vừa vặn với khối lượng bánh, đến việc đục đẽo tạo hoa văn” - Trần Thùy Trang (20 tuổi, con gái ông Bản) chia sẻ. Trang học làm khuôn bánh từ khi còn học lớp 4, lớp 5. Gia đình ông Bản, có tất cả 5 người, đều theo làm và duy trì nghề truyền thống này.
Dulichgo
Nghề làm đồ gỗ nói chung và làm khuôn bánh nói riêng cũng mang lại thu nhập khá cao. “Vài năm trở lại đây người đặt khung ít hơn, nhưng mỗi dịp Trung thu, gia đình tôi thu nhập cũng được vài chục triệu đồng, đòi hỏi nhiều công, sự khéo tay, tỉ mẩn nhưng năng suất hơn trồng lúa” - bà Tâm - vợ ông Bản - cho biết.

Việc đục đẽo khuôn bánh cũng tạo việc làm cho nhiều người trong làng. Ông Bản thuê vài thợ mang khung gỗ về đục đẽo tạo hình. Mỗi chiếc công thợ được 50.000 đồng, mỗi ngày trung bình làm được 4 cái được 200.000 đồng, không mấy vất vả mà không phải vất vả nắng mưa.

Khuôn bánh chủ yếu làm theo đơn đặt hàng ở khắp mọi nơi, gia đình ông Bản cũng cấp một phần cho cơ sở bán khuôn trên phố Hàng Quạt. Năm nay, ngoài những khuôn hình, hoa văn truyền thống, còn có thêm biểu tượng Hoàng Sa, Trường Sa ý nghĩa.

Theo Phan Thị Xâm (Báo Lao Động)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

Làng cốc vại chỉ để uống bia hơi Hà Nội

Trải qua nhiều đời làm nghề thổi thủy tinh, nay làng Xối Trì - xã Nam Thanh (Nam Trực- Nam Định) chỉ còn 3 hộ dân duy trì nghề này. Họ chỉ làm loại cốc vại uống bia theo đơn đặt hàng của các quán bia hơi ở Hà Nội.

< Loại cốc tái chế thô kệch này hiện nay chỉ sử dụng ở các quán bia hơi Hà Nội, không nơi đâu kể cả vùng sản xuất được người dân dùng đến.

Không rõ vì lý do gì mà các quán bia hơi ở Hà Nội (một loại bia chỉ phổ biến ở Hà Nội và vài tỉnh lân cận) đến nay vẫn chỉ sử dụng loại cốc vại làm từ thủy tinh tái chế xuất hiện từ những năm 1960.

< Mảnh kính vỡ được gia đình anh Phạm Ngọc Hân, chủ một lò thổi thủy tinh ở làng Xối Trì chất thành đống lớn giữa sân nhà.

Bia hơi được người Pháp đưa vào sản xuất ở Việt Nam, sau thời gian chiến tranh, khoảng giữa những năm 1960, nhà máy bia Hà Nội được phục hồi với sự giúp đỡ của công nghệ nấu bia Tiệp Khắc (nay là Séc và Slovakia). Bia hơi ngày càng được người dân Thủ đô ưa chuộng. Cùng với đó là sự ra đời của loại cốc vại chuyên để uống bia hơi, làm từ thủy tinh tái chế khá thô sơ với những bọt khí lẫn trong thành cốc.

< Các mảnh thủy tinh được đập thành mảnh nhỏ, kích thước tương đối đều nhau, được sàng sảy loại bỏ tạp chất.
Dulichgo
Vài năm trước đây, Tổng công ty CP Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội (HABECO) đã thay đổi mẫu mã cốc uống bia hơi Hà Nội đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, đủ tiêu chuẩn sử dụng cho các loại đồ uống có cồn, sản xuất một lần không sử dụng tái chế.

< Mảnh kính vỡ được nung trong lò khoảng 6 giờ.

Thế nhưng các quán bán bia hơi Hà Nội hiện nay vẫn chỉ sử dụng loại cốc vại thủy tinh tái chế đã tồn tại từ nửa thế kỷ nay. Chị Vân Anh, chủ một quán bia hơi có tiếng nằm trên đường Trường Chinh cho biết khách chỉ thích uống loại bia này bằng cốc vại thô kệch sù sì chứ không muốn dùng bất kỳ loại cốc nào khác, nên chị vẫn phải đặt mua loại cốc vại này. Hiện nay chỉ còn 3 hộ dân ở làng nghề thổi thủy tinh Xối Trì là còn sản xuất loại cốc "đặc chủng" này và cũng chỉ làm theo đơn đặt hàng.

< Thủy tinh nóng chảy được lấy ra bằng một chiếc ống rỗng, hay được gọi là ống tán, dùng để thổi thành hình cốc. Thổi định hình cốc là khâu đòi hỏi thợ phải có kỹ thuật rất cao, không phải thợ nào cũng làm được.

Người khác thì không rõ nhưng tôi thì chúa ghét dùng loại cốc nhựa có quai làm giả pha lê. Cầm nhẹ tếch và khi chạm cốc nó tịt như người bị bịt mũi mà chào hỏi nhau. Bia có ngon đến mấy mà uống trong cái cốc nhựa kiểu này thì cũng coi như hỏng. Vậy nên người ta vẫn chỉ ưa dùng loại cốc vại thủy tinh bọt thô cổ truyền và dung tích thì cực kỳ uyển chuyển.
Dulichgo
Người uống bia vẫn ngày ngày cụng ly bằng những chiếc cốc vại xù xì thô kệch muôn thuở này. Cái gì tồn tại mãi thì phải có cái hợp lý của nó chứ? Vậy là ta thử đi tìm cái hợp lý trong chiếc cốc vại xù xì của bia Hà Nội xem sao:

< Thủy tinh nóng chảy được đưa vào một khuôn thép để thổi định hình chiếc cốc. Những thợ chưa đủ trình độ thổi luôn túc trực bên cạnh thợ thổi để tiếp nhận ống làm các bước tiếp theo.

- Này nhé: cốc bia thì phải lớn. Dân uống bia mấy ai nhâm nhi? Đời thủa nhà ai lại đi uống bia trong cái chén hạt mít bao giờ. Vại là loại cốc lớn chỉ để uống bia. Hợp lý quá đi chứ!

< Anh Phạm Văn Linh, chủ một lò khác cho biết công việc này đòi hỏi phải có sức khỏe vì thợ luôn làm việc trong môi trường nhiệt độ cao lại độc hại.

- Uống bia phải có bạn có bè, có không khí. Phải nâng lên, hạ xuống liên tục mới vui. Chẳng lẽ lại chạm cốc cành cạch bằng cái cốc nhựa mỏng tanh nhẹ bỗng? Phải dùng cốc vại thủy tinh mới chạm thoải mái, phát ra tiếng kêu tanh tách mới vui!

< Chiếc cốc được duy trì ở nhiệt độ nhất định trong quá trình cắt mép.

- Bia hơi phải giữ lạnh. Cốc vại vừa dày, có bọt lại là thủy tinh nên dùng cốc vại để uống bia thì còn gì cho bằng?
Dulichgo
Cốc vại làm từ thủy tinh tái chế. Nhỡ cốc có vỡ bỏ vào lò nấu lại có cốc mới. Tuyệt vời! Chẳng lo ô nhiễm môi trường như những vật liệu lâu hủy và không tái chế được. Ai dùng cốc vại là người có ý thức bảo vệ môi trường!

- Giá thành một chiếc cốc vại ngoài chợ chỉ ngót nghét ngàn bạc, không bằng một lần gửi xe. Rẻ quá ! có lỡ tay đánh vỡ dăm chiếc cốc thì cũng chẳng thiệt thòi gì. Vậy nên nhà hàng nào mà chẳng thích?

< Chiếc bếp ga đặc chủng duy trì nhiệt độ của cốc trong quá trình cắt mép. Sau khi cắt mép chiếc cốc được đưa ra ngoài môi trường thông thường và miệng cốc được định hình sao cho tròn trịa nhất bằng một chiếc chai có kích cỡ phù hợp.

Còn một điều vô cùng hợp l" và cũng bất hợp lý nữa mà tôi xin cứ xổ toẹt ra đây là cái cốc vại tuy to mà lại... nhỏ. Trông to như thế nhưng thủy tinh lại rất dày, chẳng theo một khuôn khổ nào cả. Bạn đã ăn nem chua, bánh gai bao giờ chưa? Trông cái nem, cái bánh thì to thế nhưng bóc hết vỏ độn thì phần ruột chỉ nhỉnh hơn cái kẹo bột hay cái lưỡi mèo. Vậy mà ai cũng thích chọn của to. Thế thì người ta cứ độn cho to. Cái cốc vại trông to thế nhưng lượng bia chứa trong lòng cốc chả phải quá nhiều. Không tin, bạn cứ đong thử thì biết!
Dulichgo
< Tiếp theo, những chiếc cốc đang nóng được xếp thành hàng dưới một lớp tro để không bị nguội quá nhanh gây nứt vỡ.

Cách đây ngót chục năm, anh bạn Jeffrey người Mỹ của tôi là một nhà nghiên cứu cổ sinh vật học có tiếng và cũng là tay sành bia có hạng đến làm việc với nhau ở Hà Nội. Việc xong, cả nhóm kéo nhau đi uống bia bên gốc cây si gần nhà hát lớn.

Cả hội say khướt vì vị men bia đặc biệt Hà Nội mà theo anh bạn tôi thì nó chẳng kém bất kỳ một loại bia nào trên thế giới...

< Chỉ khách Hà Nội mới đặt hàng loại cốc này. Thời đầu chiếc cốc có dung tích nửa lít (cốc bên trái), nay đa phần khách đặt cốc bé hơn (phải).

Thế nhưng ở đây có một thứ mà chẳng nơi nào có được. Đó chính là chiếc cốc vại thủy tinh dầy, xanh xanh, trăng trắng, đùng đục sần sùi, cầm thì nặng tay, thành cốc đổ mồ hôi lạnh toát. Có thể nhìn rõ lớp bọt bia trắng xốp phồng trên miệng, những dòng tăm sủi bọt liên tục theo nhau nổi lên từ đáy cốc. Tha hồ nâng lên hạ xuống, chạm cạch cạch, canh cách liên tục thoải mái mà không sợ vỡ.

Anh bạn tôi may mắn xin được chị bán hàng người Hà Nội tươi trẻ một chiếc cốc vại Hà Nội đem về xếp cạnh mấy chục loại cốc bia của đủ các hãng bia khác nhau trên thế giới. Cho đến bây giờ, anh vẫn luôn tự hào về hiện vật độc đáo mang đậm màu sắc Hà Nội này trong bộ sưu tập độc nhất vô nhị của anh trên đất Hoa Kỳ.

Du lịch, GO! tổng hợp từ Vietnamnet, Người Đưa Tin...

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Quýt Bắc Sơn, món quà xứ Lạng

Quýt từ lâu đã trở thành thức quả đặc sản nổi tiếng của thung lũng Bắc Sơn bởi hương vị thơm ngon, đậm chất núi rừng.

Du lịch lên Lạng Sơn vào mùa đông, ngoài việc ngắm cảnh, chiêm ngưỡng hiện tượng băng tuyết kỳ thú trên đỉnh Mẫu Sơn, nhâm nhi nhiều đặc sản riêng có như vịt, lợn quay, phở chua, bánh ngải…, bạn cũng sẽ được thưởng thức những trái quýt vàng ươm, mọng nước, sản vật độc đáo của nơi này.

Huyện Bắc Sơn được biết đến là vựa quýt lớn không chỉ của tỉnh Lạng Sơn mà của cả miền Bắc. Người dân địa phương chia sẻ rằng, diện tích trồng quýt ở Bắc Sơn rất lớn, mỗi vùng trồng gọi là một "Lân", mỗi "Lân" lại do một hoặc nhiều gia đình trồng.

Là loại cây ưa ánh sáng tán xạ, độ ẩm vừa phải, thích hợp với thời tiết lạnh và khô mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên quýt Bắc Sơn sinh trưởng tốt nhất trong các khe núi, thung lũng thuộc vùng núi đá, độ cao 500 – 700 m so với mực nước biển.
Dulichgo
Quýt Bắc Sơn có màu sắc hấp dẫn, mũi quả căng mọng, ít hạt có vị ngọt đậm hơi chua, hương vị rất đặc trưng mà nơi khác không có được. Quýt ở đây có hai lọai là quýt quả tròn và quýt quả dẹt. Quýt quả tròn khi chín có màu vàng ươm , vỏ mỏng trung bình, dóc vỏ, ít sơ, vị ngọt đậm, thơm, trọng lượng quả từ 80 – 150g, khi bóc có lỗ rỗng ở giữa quả.

Quýt quả dẹt có hai đầu lõm, hình hơi dẹt, khi chín có màu vàng ươm,vỏ mỏng trung bình, dễ bóc vỏ, có ít sơ, vị ngọt hơi chua, trọng lượng quả trung bình từ 100 – 150g. Quýt vàng Bắc Sơn của tỉnh Lạng Sơn là một trong những giống quýt có hương vị ngon nhất hiện nay.

Quýt Bắc Sơn được trồng trên các khe núi thung lũng, sườn đồi của huyện Bắc Sơn hàng chục năm nay đã nổi tiếng với màu vàng của nắng, vị ngọt của núi, hương thơm của gió rừng. Bắc Sơn đã dồn vào làm cho quả quýt có hương vị đặc biệt thơm ngon mà không một nơi nào có thể sánh được.

Ít ai biết rằng quýt vàng Bắc Sơn chính là cây xóa đói giảm nghèo cho các hộ đồng bào dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao, H’Mông ở đây. Mùa quýt chín vào khoảng cuối tháng 11 dương lịch đến tháng 1 năm sau, cũng là thời điểm giáp Tết Âm lịch. Quýt được người dân thu hoạch, cho vào gùi và chuyển xuống núi bằng ròng rọc. Sản phẩm quýt Bắc Sơn chủ yếu bán cho các thương lái đi tiêu thụ khắp nơi trong tỉnh, các vùng lân cận và chợ.
Dulichgo
Tuy nhiên thị trường quýt có những năm bị mất giá, đầu mùa còn có thể bán được 20.000 đến 30.000 đồng một kg nhưng vào chính vụ giá chỉ còn 10.000 đồng một kg. Nhiều gia đình vì bận gặt lúa, một phần vì mất giá, bán chẳng đủ công hái và công vận chuyển gồng gánh ra khỏi "Lân" nên họ thậm chí không trẩy đi bán. Quýt rụng đầy gốc. Khách du lịch có dịp đến vườn quýt chụp ảnh nhờ, được bà con mời ăn thoải mái, còn biếu làm quà mang về.

Du lịch, GO! tổng hợp từ nhiều nguồn

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2015

Cuối tuần thăm các làng nghề quanh Hà Nội

Đi xem múa rối nước làng Đào Thục hay học làm chuồn chuồn tre tại Thạch Xá là những gợi ý bạn nên thử.

Câu chuyện cuối tuần đi đâu luôn là đề tài muôn thuở của nhiều người. Nếu còn băn khoăn thì tới thăm các làng nghề sẽ là gợi ý thú vị cho bạn. Không phải làng gốm Bát Tràng hay làng nón Chuông quá quen thuộc nữa mà thay vào đó là những làng nghề khác không kém phần thú vị.

Làng chuồn chuồn tre Thạch Xá

Nằm gần chùa Tây Phương, cách Hà Nội chừng 35 km, Thạch Xá là làng làm chuồn chuồn tre nổi tiếng của huyện Thạch Thất, Hà Nội. Chuồn chuồn tre ở đây được làm bắt mắt và có thể đứng thăng bằng bởi phần đầu trên những điểm tựa nhỏ. Chính vì vậy khách du lịch tới chùa Tây Phương rất yêu thích sản phẩm này.

Sở dĩ gọi là chuồn chuồn tre vì sản phẩm này được làm từ những cây tre bánh tẻ, đốt dài và ít mối mọt. Thông thường, một sản phẩm phải trải qua các giai đoạn gồm: Chẻ tre, vót thân và cánh chuồn chuồn, làm mỏ, lắp cánh, trang trí. Trong đó, công đoạn khó nhất là lắp cánh vào thân chuồn chuồn. Công đoạn này đỏi hỏi người thợ thủ công phải tính toán cẩn thận để chuồn chuồn đậu được trên tay. Chỉ khi chuồn chuồn cân bằng, người thợ mới gắn keo cố định và trang trí.
Dulichgo
Có 3 loại chuồn chuồn theo cỡ lớn, vừa và nhỏ với độ dài tương ứng là 12 - 15 và 18 cm được làm tại đây. Cầu kỳ hơn, bạn có thể đặt theo ý mình hay tự làm dưới sự hướng dẫn của các nghệ nhân trong làng.

Làng quạt Chàng Sơn

Quạt Chàng Sơn là sản phẩm có tiếng tại xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Nghề làm quạt ở đây có từ cách đây hơn trăm năm. Ngay từ thế kỷ 19, những chiếc quạt Chàng Sơn đã được người Pháp đem đi triễn lãm tại kinh đô Paris hoa lệ. Không chỉ vậy, người làm quạt giỏi nhất làng còn được phong chức Bá Hộ (phẩm hàm cấp cho hào lý hoặc người giàu có thời phong kiến).

Những chiếc quạt Chàng Sơn nổi tiếng bền và đẹp. Để có một chiếc quạt như ý, mỗi người thợ ở đây phải lựa chọn từng loại nguyên liệu tốt nhất. Trong đó tre làm quạt phải dẻo, không mối mọt, sợi mây phải óng mượt và dài để không bị đứt đoạn khi viền. Giấy làm quạt là loại giấy dó, giấy điệp mua tại Đông Hồ để tranh vẽ lên màu đẹp nhất.

Cái khó của việc làm quạt chính là căn thật chuẩn các nếp gấp ở mỗi nan quạt. Điều này đòi hỏi người thợ phải tính toán kỹ lưỡng để khi hoàn thành, chiếc quạt gấp lại không bị ảnh hưởng đến tranh vẽ bên trên. Các nếp gấp cũng phải nằm đúng vào khoảng giữa để không bị cắt người hay vật trên tranh. Trường hợp bắt buộc phải cắt thì cái tài của người thợ Chàng Sơn chính là vẽ thêm những mối liên kết khó nhận biết nếu không nhìn gần.

Làng tương bần Yên Nhân

Tương bần là tên một loại tương được sản xuất tại thị trấn Bần Yên Nhân, Hưng Yên. Trước kia tương bần là sản phẩm dùng để tiến vua. Ngày nay tương bần không chỉ nổi tiếng ở Hưng Yên nói riêng mà còn ở Việt Nam nói chung.

Nguyên liệu làm tương bần đơn giản và dễ tìm là gạo nếp cái hoa vàng, đỗ tương và muối. Thế nhưng để có được bát tương ngon, lại không phải điều dễ dàng. Quy trình làm tương bần trải qua ba bước chính là lên mốc xôi nếp, ngả đỗ và ủ tương. Gạo nếp đem ngâm rồi nấu chín thành xôi sau đó xới ra nong để khoảng 2 ngày cho lên mốc vàng. Đỗ tương rang vàng rồi xay nhỏ và ngâm trong chum sành từ 7 đến 10 ngày để đỗ lên màu. Sau khi hai bước này hoàn tất, người làm tương sẽ lấy nước đỗ ngâm trong chum tưới lên mốc xôi và trộn đều. Để như vậy thêm 1 ngày 1 đêm nữa cho xôi mốc lên vàng mới cho vào chum đỗ tương có trộn muối tinh và phơi ngoài trời nắng.
Dulichgo
Tương bần Yên Nhân có màu vàng như mật ong và là thứ nước chấm không thể thiếu của bánh đúc, bánh tẻ... Không chỉ vậy, tương bần còn giúp các món ăn dậy mùi và đậm đà khi chế biến.

Làng thêu Quất Động

Một trong số những làng nghề truyền thống tại Hà Nội không thể không nhắc tới chính là làng thêu Quất Động. Đây là làng thêu nổi tiếng, có lịch sử từ thế kỷ 17.  Khi ấy, thợ thêu Quất Động chỉ làm các loại nghi môn, trướng, câu đối và các loại khăn chầu. Tuy nhiên đến đầu thế kỷ 20, nghề thêu ở đây đã trở nên tinh tế và khéo léo hơn và đạt đến độ thẩm mỹ cao cũng như đa dạng về sản phẩm.

Thông thường vải được chọn thêu phải là loại vải bông hoặc lụa và chỉ thêu làm từ sợi tơ tằm nhuộm màu. Riêng với đồ thờ cúng thì dùng thêm chỉ thêu kim tuyến màu vàng và ngân tuyến ánh bạc. Đầu tiên người thợ sẽ phác thảo phần khung tranh trên vải, sau đó tùy theo cảm hứng sáng tác mà thêu thêm hay bớt đi một vài chi tiết.

Điều làm nên nét quyến rũ của bức tranh thêu không chỉ ở nguyên liệu hay chủ đề đa dạng mà nằm ở kỹ thuật của mỗi người thợ. Mỗi một bức tranh thêu đòi hỏi người thợ Quất Động phải có một tâm hồn nhạy cảm với cái đẹp và thật kiên trì. Khi ấy mọi kỹ thuật thêu như nối đầu, đâm xô, thụt lùi... mới kết hợp với nhau nhuần nhuyễn và cái hồn của tác phẩm mới thoát ra khỏi từng đường kim mũi chỉ.

Làng rối nước Đào Thục

Không giống những làng nghề khác, sản phẩm truyền thống tại Đào Thục, Đông Anh, Hà Nội lại là bộ môn nghệ thuật nổi tiếng: Múa rối nước. Ông tổ truyền nghề múa rối nước cho làng Đào Thục có tên là Nguyễn Đăng Vinh.
Dulichgo
Không chỉ chế tác các con giống múa rối, những nghệ nhân trong làng còn chính là người nghệ sỹ tham gia vào mỗi vở diễn. Trước đây làng Đào Thục thường biểu diễn các tích trò nổi tiếng là "Ba khí giáo trò", "Lên võng xuống nước", "Trâu chui ống"... nhưng hiện nay, nhiều tiết mục đã được sáng tác thêm để ca ngợi quê hương đất nước như "Tặng hoa ngày hội", "Rước ảnh Bác Hồ", "Hà Nội 12 ngày đêm"....

Khách đến Đào Thục có thể tới vào cuối năm hay đầu xuân là thời gian đông khách du lịch. Vào dịp này, mỗi tháng các nghệ nhân sẽ diễn khoảng 20 buổi hoặc hơn. Trước đây, các buổi biểu diễn được tổ chức tại ao làng với sân khấu được chiếu sáng bởi đèn dầu, đuốc và chưa có chỗ ngồi. Nhưng hiện tại, ao làng đã được xây dựng thêm nhà thủy đình đẹp đẽ và có sắp đặt chỗ ngồi thuận tiện cho khách.

Phường múa rối nước làng Đào Thục, xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội, được biết đến là nơi gìn giữ vốn văn hóa cổ truyền, môn nghệ thuật dân gian rối nước, đã có gần 300 năm nay. Đi qua Cầu Đuống rẽ trái theo quốc lộ 3 chừng 20 km nữa đến cầu Phủ Lỗ thì rẽ phải Men theo triền đê sông Cà Lồ về thôn Đào Thục (xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, TP Hà Nội).

Hướng dẫn đường đi:

- Làng chuồn chuồn tre Thạch Xá: Từ Hà Nội, bạn đi theo hướng đại lộ Thăng Long khoảng 25 km đến Thạch Thất sau đó rẽ phải, đi tiếp 10 km nữa để hỏi thăm đường đến chùa Tây Phương. Khi thấy biển chùa Tây Phương thì rẽ trái. Làng nằm ngay dưới chân ngọn núi này, nơi có chùa Tây Phương tọa lạc.

- Làng quạt Chàng Sơn: Nằm cùng trục đường tới làng Thạch Xá nhưng bạn không rẽ phải vào chùa Tây Phương mà rẽ theo hướng ngược lại.

- Làng tương bần Yên Nhân: Từ Hà Nội, bạn đi theo quốc lộ 5 chừng 25 km thì tới nơi.

- Làng thêu Quất Động: Bạn đi theo đường Giải Phóng, qua thị trấn Văn Điển, tới chợ Vồi sẽ thấy biển chỉ dẫn bên đường.

- Làng rối nước Đào Thục: Từ trung tâm Hà Nội, bạn đi qua cầu Đuống, rẽ trái theo quốc lộ 3 đến Phủ Lỗ thì men theo đê sông Cà Lồ về thôn Đào Thục. Tổng đường đi khoảng 24 km.

Theo Diệu Huyền (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Khám phá làng mì Chũ Lục Ngạn

(TTO) - Nếu muốn thưởng thức đặc sản mì Chũ chính hiệu, bạn hãy tìm đến xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn, Bắc Giang.

Đi dọc quốc lộ 31, cách thành phố Bắc Giang 40km về phía đông, bạn sẽ đến thôn Thủ Dương, xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn và được người dân nơi đây giới thiệu đến làng nghề mì gạo Nam Dương, còn gọi là mì Chũ ngon nức tiếng gần xa.

Thôn Thủ Dương chỉ cách thị trấn Chũ (huyện lỵ Lục Ngạn) một cây cầu bắc qua sông Chũ. Cũng như nhiều địa phương khác ở Lục Ngạn, Thủ Dương trồng khá nhiều vải thiều nhưng thu nhập chính của người dân trong thôn lại từ nghề làm mì gạo.

Cảm nhận đầu tiên khi đặt chân đến vùng đất này là màu trắng của những giàn bánh tráng phơi dựa vào các tường xây bao quanh nhà ở, vườn cây của các gia đình.

Tìm đến các hộ sản xuất trong làng nghề mì Chũ thôn Thủ Dương, bạn sẽ được tận mắt tìm hiểu công đoạn sản xuất  mì Chũ nổi tiếng. Quy trình sản xuất được làm tỉ mỉ và cẩn thận, đòi hỏi kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm của người dân làng nghề. Để tạo ra những sợi mì vừa dai, vừa ngọt bùi, người làng Thủ Dương phải qua rất nhiều công đoạn hết sức công phu.
Dulichgo
Quan trọng nhất là khâu lựa chọn nguyên liệu. Loại gạo được dùng là gạo bao thai Hồng. Giống lúa tạo ra loại gạo này được trồng trên vùng đất đồi Chũ. Đặc trưng của loại gạo này là tạo ra được những sợi mì có độ dẻo dai, độ trắng và hương thơm đặc trưng. Những hạt gạo trắng trong, căng mẩy được nhặt sạch, đem ngâm 6 - 8 tiếng, sau đó xay ra thành bột cho thật dẻo và sánh, lọc đi lọc lại nhiều lần rồi ủ qua một đêm.

Từ tờ mờ sáng, người làm bánh đã phải dậy sớm đem bột ra tráng thành bánh để kịp phơi cho được nắng. Bánh tráng chỉ được phơi khi trời nắng, nếu thời tiết không thuận lợi người làm nghề sẽ dừng việc sản xuất, nếu không bánh đưa vào lò sấy không đảm bảo chất lượng. Khi bánh khô sẽ đem trần mỡ (mỡ lợn đã rán) rồi ủ, gấp bánh để sáng hôm sau thái bánh thành sợi và lại tiếp tục đem phơi khô, bó thành từng bó mì và đóng gói thành phẩm.

Một mẻ bánh thường có ít nhất ba người làm, mỗi người thạo một khâu riêng. Người tráng bánh lo cho bánh chín đúng độ, người cắt bánh lo cắt sao cho đều, người đem phơi, đem ủ và thái thành những sợi mì đều đặn…

Ngay cả việc cuộn và bó sao cho các sợi mì sóng đều, mượt trông đẹp như búi tóc của người thiếu nữ cũng là cả một nghệ thuật mà không phải là người làm mì nào cũng thực hiện được. Thường phụ nữ đảm nhận khâu này để sao cho bó mì chắc, đẹp và đều nhất.
Dulichgo
Tổng cộng từ các nguyên liệu, người thợ phải thực hiện rất nhiều quy trình trong hơn 36 giờ mới cho ra đời những sợi mì đặc sản dẻo, dai và mỏng manh.

Hiện làng nghề mì Chũ thôn Thủ Dương, xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn có trên 300 hộ sản xuất mì gạo, chiếm tới 85% số hộ của làng. Trong đó có hơn 100 hộ tham gia Hội sản xuất và tiêu thụ mì Chũ Lục Ngạn. Bình quân mỗi ngày làng nghề sản xuất và tiêu thụ gần 30 tấn mì gạo, trong đó Hội sản xuất mì Chũ sản xuất và tiêu thụ 10 tấn, giá trị thu được của làng nghề gần 8 tỉ đồng mỗi năm.

Được sản xuất bằng phương pháp gia truyền nên dù không sử dụng các chất bảo quản thực phẩm, hàng the… nhưng mì Chũ vẫn có độ giòn, dẻo, dai và thơm ngon. Đây là lý do khiến mì gạo Chũ tại Thủ Dương được ưa thích so với các loại mì gạo khác.

Mì Chũ là món ẩm thực bình dân, có thể chế biến thành nhiều món như lẩu, mì xào hay phở...
Ai từng được thưởng thức mì Chũ một lần chắc hẳn sẽ không quên màu trắng sữa, vị ngọt của gạo bao thai, giống lúa chất lượng cao nhất được trồng trên các chân ruộng cao ở vùng đất đồi, chịu được gió bão, sương sa. Đó chính là sự hòa quyện giữa gạo quê và nguồn nước trong lành của vùng núi đồi sông Lục, cùng với đôi bàn tay nghệ nhân làng nghề để làm nên đặc sản của một miền quê.
Dulichgo
Đặc điểm nổi trội nhất của mì Chũ là nếu chưa kịp ăn ngay khi để nguội vẫn không bị nát mà vẫn giữ được hương vị riêng. Bởi vậy, đặc sản mì Chũ ngày càng có chỗ đứng trên thị trường, nức tiếng gần xa và dần khẳng định mình so với các loại mì khác.

Nếu có dịp đến với vùng đất Bắc Giang bạn đừng bỏ lỡ cơ hội thưởng thức món ăn đặc biệt này và cũng không quên mua làm quà cho người thân, bạn bè để cùng thưởng thức đặc sản của vùng đất Lục Ngạn.

Theo Huyền Trân (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

Thu về làng cốm Mễ Trì

(TTO) - Nhắc tới cốm mùa thu ai cũng nhớ ngay đến cốm làng Vòng. Nhưng ít ai biết đến Hà thành còn có một ngôi làng khác cũng nổi tiếng với nghề cốm gia truyền. Đó là cốm Mễ Trì (Từ Liêm, Hà Nội).

< Cốm được gói trong hai lớp lá và buộc bằng những sợi rơm vàng.

Đến Mễ Trì những ngày đầu chớm thu, chỉ cần đi tới đầu làng đã thấy hương cốm tỏa ra thơm phức, ngào ngạt. Cốm được làm từ nhiều loại lúa khác nhau nhưng ngon nhất vẫn là lúa nếp cái hoa vàng trong cả hai mùa lúa chiêm và lúa mùa. Thông thường, người ta thường hay chọn lúa mùa (từ khoảng rằm tháng 7 âm lịch đến hết tháng 9 âm lịch) để làm cốm.
Để có một mẻ cốm ngon, người thợ phải thực sự khéo tay và tinh tế.

Quá trình làm cốm bắt đầu bằng việc đi thu hoạch hay thu mua lúa non về, ngồi nhặt rồi tuốt ra bằng máy. Sau đó, những hạt lúa cho vào thùng to đãi, bao nhiêu hạt chắc, mẩy thì vớt ra để ráo nước, nhóm lò củi cho vào chảo rang, vê cho giòn vỏ rồi đổ ra nia cho nguội.
Dulichgo
Bếp lò để rang cốm thường phải đắp xỉ than nhưng không đốt than mà dùng củi. Chảo rang cốm thường bằng gang đúc, có như vậy từng hạt cốm khi rang xong không bị cháy, vẫn mềm dẻo và thơm.

< Bếp lò để rang cốm đắp bằng xỉ than nhưng không đốt than mà dùng củi.

Theo kinh nghiệm của người dân nơi đây, cốm được rang trong lửa nhỏ, đảo liên tục cho nóng đều. Thóc rang xong, người làm cốm đợi nguội rồi cho từng mẻ vào cối giã. Thóc được giã đều và vừa tay khi thấy có trấu thì xúc ra xẩy bỏ trấu rồi lại giã tiếp. Tùy theo độ non của lúa khi gặt mà người giã cốm sẽ ước lượng, trung bình khoảng bảy lần giã là hoàn tất. Để ra được một mẻ cốm 40 - 50kg thì mất cả ngày công, khoảng 7-8 giờ.

Cốm thành phẩm sẽ được gói trong hai lớp lá và buộc bằng những sợi rơm vàng. Lớp trong là lá ráy xanh và mát giữ cho cốm khỏi khô và không phai nhạt màu xanh ngọc. Lớp ngoài là lá sen có hương thơm thoang thoảng. Mùi thơm của hương cốm dịu dang thoảng qua. Nhón tay bốc một nhúm từ từ đưa vào miệng. Hạt cốm chạm nơi đầu lưỡi, dẻo, thơm và ngọt bùi.

Đã trải qua nhiều đời gắn bó với nghề cốm của cha ông truyền lại anh Bền (xóm 3, thôn Thượng, Mễ Trì) thấu hiểu nỗi vất vả để có những mẻ cốm thơm ngon. Anh chia sẻ: “Mỗi mùa cốm về cả nhà anh lại tập trung toàn bộ nhân lực để kịp làm hàng. Buổi sáng dậy từ 3g sáng để chuẩn bị máy giã cốm cho kịp sáng giao hàng, tối đêm 10, 11g đêm mới được đi ngủ”. Vào mùa cốm, chợ cốm đêm duy nhất là ở Mễ trì được diễn ra vào lúc 4-6 giờ sáng.

Điểm khác biệt so với cốm làng Vòng nổi tiếng là cốm Mễ Trì làm bằng lúa chiêm nên hạt cốm mỏng, nhưng dẻo và rất thơm. Chính sự khác biệt này đã tạo nên đặc trưng riêng của cốm Mễ Trì.
Dulichgo
Cốm ngày nay không đơn thuần là món ăn chơi, nó được kết hợp ngày càng phổ biến hơn trong các món ăn sang trọng, tạo hương vị mới lạ như chả cốm hay món chè cốm. Nhịp chày giã cốm vang lên khắp thôn khi ánh chiều tà dần phủ buông, khói bếp nghi ngút bốc lên từng mái ngói hứa hẹn những mẻ cốm thơm ngát. Từng hạt cốm thơm dẻo chất chứa bao nỗi niềm của người làm cốm gửi gắm vào đó.
 
< Những gói cốm tươi xanh - những món quà quý của mùa thu.

Cốm là món ăn dân dã nhưng cũng rất sang trọng, nồng nàn mà cũng thật tinh khiết. Nhắc đến mùa thu, nhiều người nghĩ ngay đến món cốm. Phải chăng, hương thơm của cốm trong thời tiết xanh mát những ngày thu đã làm say lòng biết bao người từng thưởng thức, để rồi nhớ mãi không quên.

Chắc chắn ai đã từng một lần thưởng thức vị thơm ngon của cốm Mễ Trì trong những ngày mùa thu có lẽ sẽ không quên được vị thơm ngọt thanh mát của cốm. Và tin rằng, với sự nỗ lực của người dân Mễ Trì, làng cốm sẽ ngày càng ghi dấu, trở thành phong vị không thể thiếu của đất Hà thành.

Theo Huyền Trần (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!