Sống trên núi Cấm (Tịnh Biên, An Giang), bà con sơn dân đã tận dụng đất rừng trồng tre mạnh tông xen kẽ cây ăn trái, từ đó mà có loại măng tre nổi tiếng của vùng núi. Đặc biệt, măng tre muối chua được chế biến thành nhiều món ngon.
Vào tháng 4 Âm lịch hằng năm, khi có vài đám mưa lớn thì bà con bắt đầu thu hoạch măng, có gia đình thu hoạch được 700 – 1.000kg một đợt, thậm chí lúc rộ măng còn thu hoạch tới cỡ 2.000kg một đợt.
Do vậy mà giá măng tươi núi Cấm giảm dần theo vụ mùa. Đầu mùa mưa (khoảng tháng 5 – tháng 6) thường có giá 18.000 - 20.000 đồng/kg; lúc măng rộ (cuối tháng 7) rớt xuống chỉ còn 2.500 - 3.000 đồng/kg. Lúc giá măng xuống thấp, các vựa thu mua măng chuyển sang làm măng chua để dự trữ bán trong năm.
< Mụt măng được bóc vỏ, gọt sạch trước khi xắt mỏng để ngâm chua.
Quy trình làm măng chua như sau (theo lời bà chủ vựa): măng tươi để nguyên mụt rồi lột vỏ, dùng dao gọt sạch sẽ và bào thành từng lát mỏng, ngâm trong nước có quậy muối cùng nước vo gạo để măng được trắng.
Dulichgo
Bà con núi Cấm làm hai loại măng chua để vừa có sản phẩm bán ngay vừa có măng dự trữ bán quanh năm. Măng bán ngay được ngâm nước muối lạt, bỏ bọc từng kg, rồi dồn thành bọc 10kg giao cho bạn hàng; măng ăn liền có giá 12.000 đồng/kg.
Măng được ngâm trong lu, trong kiệu, trong phi: mỗi lu 130kg, kiệu 150kg và phi 160kg. Khi ngâm phải đậy kín không cho không khí lọt vào để măng khỏi bị thâm.
< Măng ngâm chua để dự trữ bán quanh năm.
Dulichgo
Trung bình mỗi năm bà chủ vựa dự trữ khoảng 6 tấn măng chua. Măng chua giòn, vị chua đậm đà, có thể ăn kèm với món ăn như rau hoặc dùng như nguyên liệu để chế biến nhiều món: canh chua, xào…
Du khách đến với Thiên Cấm sơn, sau khi tham quan vẻ đẹp hùng vĩ, phong cảnh hữu tình của núi rừng cùng nhiều danh lam thắng cảnh như chùa Phật Lớn (với tượng phật Di Lặc cao 33,6m), hồ Thủy Tiên, chùa Vạn Linh…, thường không quên mang về đặc sản măng chua của núi Cấm.
Theo THỤY CHÂU/DNSGCT
Du lịch, GO!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015
Thứ Ba, 6 tháng 10, 2015
Hồng ngâm vùng cao xứ Bắc
(TTO) - Mùa thu đi chơi vùng núi cao phía Bắc, có một món quà bạn không thể không thưởng thức: hồng ngâm.
< Hồng ngâm - món quà của mùa thu.
Cô chủ nhà nghỉ ở thị trấn Tam Sơn chỉ vào chậu hồng ngâm nước lã trước hiên nhà, mời chúng tôi ăn thử. Dễ cô gọt đến cả chục quả hồng bé xinh xinh để các vị khách từ tận Đà Nẵng và Hà Nội nếm rau ráu.
Quả hồng nhỏ nên chỉ cắn một hai miếng là hết cả quả, vị giòn ngọt thanh mát trên đầu lưỡi, trăng tháng tám có phải vì thế mà sáng hơn không?
Cô bán hàng bảo đây là giống hồng không hạt ở Quản Bạ, chỉ trồng tập trung tại xã Nghĩa Thuận, xã Thanh Vân và thị trấn Tâm Sơn. Giống hồng này thích nghi ở độ cao trên 1.000m so với mặt nước biển, cây ra hoa tầm tháng 3 - tháng 4, kết quả tầm từ tháng 8 - tháng 11, chín vừa độ rằm trung thu hằng năm.
Quả hồng có kích cỡ chỉ bằng quả trứng gà ta, nho nhỏ xinh xinh, vỏ có màu xanh pha vàng, bóng mượt. Hồng hái xuống được đem ngâm vào nước 3-5 ngày cho sạch nhựa, khi ăn có vị ngọt đậm và nhiều bột mịn, vỏ quả cứng, thịt hồng lại rất chắc và giòn. Quả hồng không hạt trong mấy năm gần đây là cây nông sản mang lại hiệu quả kinh tế, là cây xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc huyện Quản Bạ (Hà Giang) và trở thành đặc sản cho nhiều du khách mỗi khi dừng chân chốn này vào mùa thu.
Đúng rằm nên quanh chợ Quản Bạ nhiều nhà bày bán hồng ngâm, những chậu lớn, chậu bé đựng đầy nước dẫn về từ trên suối, trong văn vắt, nhìn rõ những quả hồng không nuột nà, mượt mà tròn to như hồng Trung Quốc. Do không có thuốc bảo quản nên hồng ngâm chỉ nên tiêu thụ trong vòng một tuần, để lâu hơn quả sẽ xuống mã và vỏ trở nên thâm đen. Bạn tôi lấy túi mua 2kg hồng, 35.000 đồng/ký, định bụng để dành đêm nay đón trăng.
Chúng tôi nghỉ đêm ở Lũng Cẩm (Sủng Là, Đồng Văn). Bữa tiệc trung thu đơn giản sẽ tổ chức sau bữa tối với cặp bánh nướng mang lên từ Hà Nội và 2kg hồng ngâm Quản Bạ. Đám trẻ người Mông rất thích thú và cắn ngập răng vào từng quả hồng nhai rau ráu, vừa ăn vừa rúc rích cười. Hỏi có ngon không thì gật đầu, ánh mắt lộ rõ vẻ thích thú. Chúng tôi cũng không ngoại lệ, cắn miếng hồng và nhai thành tiếng như đám trẻ.
Dulichgo
Ngoài ngưỡng cửa, trăng tròn khuất sau đỉnh núi không soi sáng được mảnh sân vuông. Nhập nhoạng. Chỉ có tiếng trẻ con đuổi nhau quanh sân cười khanh khách, thỉnh thoảng ngã cái oạch, thỉnh thoảng hét ầm lên. Và cả khách với chủ nhà đã có một đêm trung thu như thế, giản dị và bình an.
Hai hôm sau, chúng tôi theo đường từ Cao Bằng về Hà Nội qua Bắc Kạn. Dọc theo quốc lộ 3 lại thấy bày bán bên đường những chậu hồng ngâm. Không cần quá tinh ý cũng biết là món nông sản đặc sản của vùng.
Vẫn giống hồng không hạt, quả tròn và to hơn giống hồng ở Quản Bạ, có lẽ là kết quả của thổ nhưỡng từng vùng. Loại cây ăn quả nhiệt đới này cũng được trồng nhiều ở Bắc Kạn và là cây nông sản được địa phương khuyến khích mở rộng do có hiệu quả cao gấp nhiều lần cây lúa.
Cây có vòng đời sinh trưởng như cây hồng ở Quản Bạ nói trên và cũng chín rộ vào dịp trung thu, khi mới thu hoạch phải ngâm vào nước cho ra hết nhựa, khi ăn có vị ngọt đậm, nhiều cát đường và rất giòn. Hồng ngâm Bắc Kạn có giá thành rẻ hơn so với hồng ngâm Quản Bạ, chỉ 25.000 đồng/kg. Có lẽ do năng suất ở khu vực Bắc Kạn cao hơn và việc vận chuyển hồng không khó khăn như bên đất Quản Bạ, Hà Giang.
Dulichgo
Nhiều ôtô đi ngang thường ghé lại các gian hàng tạm bên đường để hỏi mua hồng về như một món quà đặc sản. Khi đã bán hết hồng ngâm, họ cũng sẵn sàng bán cho khách loại hồng vừa hái xuống. Nếu ăn lúc này sẽ rất cứng và chát, vì vậy bà con dặn khách mang về nhà ngâm.
Chỉ việc ngâm ngập vào nước sạch trong 3 ngày 3 đêm, sau một ngày rưỡi thì phải thay nước. Đặc biệt lưu ý không ngâm vào nước mưa. Vậy là đã có món quà mùa thu của vùng cao phía bắc, ngon, ngọt, giòn tan, ăn một lần là mùa thu sau sẽ nhớ.
Hẳn là tôi sẽ nhớ những con đường xa ngái chơi vơi trên lưng đèo. Những cô bán hàng hồn hậu và nhiệt tình. Và nhớ hồng ngâm, món quà ngọt ngào và tiếng nhai giòn tan, rau ráu của mùa thu.
Câu hỏi gần như cửa miệng của dân miền xuôi với người miền ngược: Có phải hồng Trung Quốc không? Hỏi là thế, nhưng ở những miền đất xa xôi cách trở như Quản Bạ (Hà Giang) hay Chợ Mới (Bắc Kạn), tự nhiên có một niềm tin vô hình như muốn nói với chúng tôi rằng hãy tin đồng bào.
Theo THỦY OCG (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
< Hồng ngâm - món quà của mùa thu.
Cô chủ nhà nghỉ ở thị trấn Tam Sơn chỉ vào chậu hồng ngâm nước lã trước hiên nhà, mời chúng tôi ăn thử. Dễ cô gọt đến cả chục quả hồng bé xinh xinh để các vị khách từ tận Đà Nẵng và Hà Nội nếm rau ráu.
Quả hồng nhỏ nên chỉ cắn một hai miếng là hết cả quả, vị giòn ngọt thanh mát trên đầu lưỡi, trăng tháng tám có phải vì thế mà sáng hơn không?
Cô bán hàng bảo đây là giống hồng không hạt ở Quản Bạ, chỉ trồng tập trung tại xã Nghĩa Thuận, xã Thanh Vân và thị trấn Tâm Sơn. Giống hồng này thích nghi ở độ cao trên 1.000m so với mặt nước biển, cây ra hoa tầm tháng 3 - tháng 4, kết quả tầm từ tháng 8 - tháng 11, chín vừa độ rằm trung thu hằng năm.
Quả hồng có kích cỡ chỉ bằng quả trứng gà ta, nho nhỏ xinh xinh, vỏ có màu xanh pha vàng, bóng mượt. Hồng hái xuống được đem ngâm vào nước 3-5 ngày cho sạch nhựa, khi ăn có vị ngọt đậm và nhiều bột mịn, vỏ quả cứng, thịt hồng lại rất chắc và giòn. Quả hồng không hạt trong mấy năm gần đây là cây nông sản mang lại hiệu quả kinh tế, là cây xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc huyện Quản Bạ (Hà Giang) và trở thành đặc sản cho nhiều du khách mỗi khi dừng chân chốn này vào mùa thu.
Đúng rằm nên quanh chợ Quản Bạ nhiều nhà bày bán hồng ngâm, những chậu lớn, chậu bé đựng đầy nước dẫn về từ trên suối, trong văn vắt, nhìn rõ những quả hồng không nuột nà, mượt mà tròn to như hồng Trung Quốc. Do không có thuốc bảo quản nên hồng ngâm chỉ nên tiêu thụ trong vòng một tuần, để lâu hơn quả sẽ xuống mã và vỏ trở nên thâm đen. Bạn tôi lấy túi mua 2kg hồng, 35.000 đồng/ký, định bụng để dành đêm nay đón trăng.
Chúng tôi nghỉ đêm ở Lũng Cẩm (Sủng Là, Đồng Văn). Bữa tiệc trung thu đơn giản sẽ tổ chức sau bữa tối với cặp bánh nướng mang lên từ Hà Nội và 2kg hồng ngâm Quản Bạ. Đám trẻ người Mông rất thích thú và cắn ngập răng vào từng quả hồng nhai rau ráu, vừa ăn vừa rúc rích cười. Hỏi có ngon không thì gật đầu, ánh mắt lộ rõ vẻ thích thú. Chúng tôi cũng không ngoại lệ, cắn miếng hồng và nhai thành tiếng như đám trẻ.
Dulichgo
Ngoài ngưỡng cửa, trăng tròn khuất sau đỉnh núi không soi sáng được mảnh sân vuông. Nhập nhoạng. Chỉ có tiếng trẻ con đuổi nhau quanh sân cười khanh khách, thỉnh thoảng ngã cái oạch, thỉnh thoảng hét ầm lên. Và cả khách với chủ nhà đã có một đêm trung thu như thế, giản dị và bình an.
Hai hôm sau, chúng tôi theo đường từ Cao Bằng về Hà Nội qua Bắc Kạn. Dọc theo quốc lộ 3 lại thấy bày bán bên đường những chậu hồng ngâm. Không cần quá tinh ý cũng biết là món nông sản đặc sản của vùng.
Vẫn giống hồng không hạt, quả tròn và to hơn giống hồng ở Quản Bạ, có lẽ là kết quả của thổ nhưỡng từng vùng. Loại cây ăn quả nhiệt đới này cũng được trồng nhiều ở Bắc Kạn và là cây nông sản được địa phương khuyến khích mở rộng do có hiệu quả cao gấp nhiều lần cây lúa.
Cây có vòng đời sinh trưởng như cây hồng ở Quản Bạ nói trên và cũng chín rộ vào dịp trung thu, khi mới thu hoạch phải ngâm vào nước cho ra hết nhựa, khi ăn có vị ngọt đậm, nhiều cát đường và rất giòn. Hồng ngâm Bắc Kạn có giá thành rẻ hơn so với hồng ngâm Quản Bạ, chỉ 25.000 đồng/kg. Có lẽ do năng suất ở khu vực Bắc Kạn cao hơn và việc vận chuyển hồng không khó khăn như bên đất Quản Bạ, Hà Giang.
Dulichgo
Nhiều ôtô đi ngang thường ghé lại các gian hàng tạm bên đường để hỏi mua hồng về như một món quà đặc sản. Khi đã bán hết hồng ngâm, họ cũng sẵn sàng bán cho khách loại hồng vừa hái xuống. Nếu ăn lúc này sẽ rất cứng và chát, vì vậy bà con dặn khách mang về nhà ngâm.
Chỉ việc ngâm ngập vào nước sạch trong 3 ngày 3 đêm, sau một ngày rưỡi thì phải thay nước. Đặc biệt lưu ý không ngâm vào nước mưa. Vậy là đã có món quà mùa thu của vùng cao phía bắc, ngon, ngọt, giòn tan, ăn một lần là mùa thu sau sẽ nhớ.
Hẳn là tôi sẽ nhớ những con đường xa ngái chơi vơi trên lưng đèo. Những cô bán hàng hồn hậu và nhiệt tình. Và nhớ hồng ngâm, món quà ngọt ngào và tiếng nhai giòn tan, rau ráu của mùa thu.
Câu hỏi gần như cửa miệng của dân miền xuôi với người miền ngược: Có phải hồng Trung Quốc không? Hỏi là thế, nhưng ở những miền đất xa xôi cách trở như Quản Bạ (Hà Giang) hay Chợ Mới (Bắc Kạn), tự nhiên có một niềm tin vô hình như muốn nói với chúng tôi rằng hãy tin đồng bào.
Theo THỦY OCG (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015
Thăm Quảng Ngãi thử món ngon từ cá thửng
(TTO) - Với người dân Quảng Ngãi, cá thửng thường hiện diện trong bữa cơm ngày thường bởi giá mỗi ký chỉ 15.000 - 30.000 đồng. Có đến xứ Quảng một lần, bạn hãy tìm ăn loại cá lạ mà ngon này.
< Nguyên liệu chủ yếu chế biến món canh cá thửng nấu với lưỡi long.
Cá thửng thân tròn, mình dài cỡ gang tay người lớn, thường sinh sống ở vùng biển ven bờ. Những ngày sóng yên, ngư phủ vùng biển bãi ngang thong thả chèo thúng hay dong ghe ra biển câu cá thửng trong nắng hanh vàng.
Cách bờ khoảng 100m, họ dừng lại rồi buông dây câu gắn khoảng 2 - 3 lưỡi với những chùm kim tuyến quanh lưỡi sắc. Cá bị kim tuyến sáng lấp lánh dẫn dụ lao tới đớp câu bị ngư dân kéo lên khỏi mặt nước vẫn còn tươi rói.
< Những ngư dân câu cá thửng gần bờ.
Chỉ loại cá rẻ tiền, nhưng những bà nội trợ vùng quê nghèo từ lâu đã biết khéo léo chế biến cá thửng thành nhiều món ăn dân dã mà ngon: kho, nướng, nấu canh chua với lá giang… nhất là nấu canh với lưỡi long.
Cá mang về dùng dao chặt vi, móc mang, cạo vảy rồi mổ ruột, nạo bỏ gân máu dọc theo sống lưng và cắt khúc ngắn vừa ăn. Dạo quanh vườn nhà bẻ vài nhánh lưỡi long to bằng ba, bốn ngón tay rồi dùng dao gọt bỏ những nốt u quanh thân, sau đó rửa sạch rồi thái thành sợi mỏng.
Đun sôi nước trên bếp rồi cho cá thửng vào nồi cùng với ít muối hạt và dăm lát ớt để khử mùi tanh của cá. Khi cá vừa chín tới thì cho lưỡi long thái sợi vào nồi dùng vá đảo nhẹ. Vài phút sau, thêm ít muối, đường, bột ngọt cho vừa ăn cùng với rau thơm thái nhỏ rồi nhấc xuống khỏi bếp thế là đã có món canh cá thửng nấu lưỡi long dân dã nhưng đậm đà hương vị.
< Canh cá thửng nấu lưỡi long.
Dulichgo
Gắp cá ra đĩa đặt cạnh chén nước mắm pha chanh, đường, ớt, tỏi... tô canh lưỡi long sóng sánh cứ như mời gọi. Vị ngọt từ thịt cá xen lẫn với vị chua dịu từ lưỡi long, phảng phất hương thơm của rau hòa cùng với vị mặn của mắm, vị cay của ớt… cứ lưu mãi nơi đầu lưỡi. Thưởng thức canh rau lưỡi long với vị chua dịu và mát lạnh khiến bao mỏi mệt dường như tiêu tan, bữa cơm gia đình thêm phần ấm cúng.
Món cá thửng nấu canh chua lá giang chế biến khá đơn giản nhưng cũng không kém phần thơm ngon. Cũng với cá đã sơ chế, chọn thêm lá giang non tươi xanh, thêm ít giá đỗ, mớ rau thơm, rửa sạch rồi để riêng từng loại rau trước khi cho vào nấu.
Khi nước đun với ít muối đã sôi thì cho cá vào nồi, thêm vài lát ớt thái mỏng để khử mùi tanh. Đợi nước sôi trở lại vò sơ lá giang cho vào, dùng vá đảo nhẹ. Khi lá giang chuyển sang màu vàng dịu thì cho giá đỗ cùng với rau thơm cắt ngắn vào nồi, nêm thêm gia vị cho vừa ăn rồi nhấc xuống khỏi bếp.
< Cá thửng nướng chấm muối ớt.
Bát canh chua với khúc cá “lửng lờ” cạnh lá giang và giá đỗ, rau thơm nhìn đã thấy hấp dẫn. Thịt cá chấm với nước mắm pha chanh, đường, ớt, tỏi hay với muối ớt đều ngon. Bát canh với vị ngọt từ cá lẫn vị chua của lá giang hòa cùng hương thơm của rau nêm khiến khách sành ăn cứ xuýt xoa khen ngợi.
Dulichgo
Nhanh gọn và đơn giản nhất là món cá thửng nướng chấm muối ớt. Cá vừa được vớt lên từ biển rửa sạch, chờ ráo nước rồi đặt lên vỉ sắt, nướng trên bếp than hồng. Giã nhuyễn muối hạt với ớt kim để chấm với món cá nướng.
Khi vảy cá cháy sém thì nhấc xuống khỏi bếp rồi bày ra đĩa. Thế là đã có món cá thửng nướng chấm muối ớt mang đậm hương vị biển khơi. Mùi cá nướng thơm phức, lan tỏa theo gió khiến nhiều người “ngẩn ngơ”. Bóc lớp vảy bên ngoài lộ ra lớp thịt cá trắng tinh trông thật bắt mắt. Vị ngọt từ thịt cá hòa quyện cùng vị mặn của muối xen lẫn vị cay của ớt cứ “vấn vương” nơi đầu lưỡi.
Cá thửng nướng chấm muối ớt là món mồi “bắn bổng” dăm ly rượu đế của các ngư phủ sau những giờ lênh đênh trên sóng nước.
Theo Minh Ký (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
< Nguyên liệu chủ yếu chế biến món canh cá thửng nấu với lưỡi long.
Cá thửng thân tròn, mình dài cỡ gang tay người lớn, thường sinh sống ở vùng biển ven bờ. Những ngày sóng yên, ngư phủ vùng biển bãi ngang thong thả chèo thúng hay dong ghe ra biển câu cá thửng trong nắng hanh vàng.
Cách bờ khoảng 100m, họ dừng lại rồi buông dây câu gắn khoảng 2 - 3 lưỡi với những chùm kim tuyến quanh lưỡi sắc. Cá bị kim tuyến sáng lấp lánh dẫn dụ lao tới đớp câu bị ngư dân kéo lên khỏi mặt nước vẫn còn tươi rói.
< Những ngư dân câu cá thửng gần bờ. Chỉ loại cá rẻ tiền, nhưng những bà nội trợ vùng quê nghèo từ lâu đã biết khéo léo chế biến cá thửng thành nhiều món ăn dân dã mà ngon: kho, nướng, nấu canh chua với lá giang… nhất là nấu canh với lưỡi long.
Cá mang về dùng dao chặt vi, móc mang, cạo vảy rồi mổ ruột, nạo bỏ gân máu dọc theo sống lưng và cắt khúc ngắn vừa ăn. Dạo quanh vườn nhà bẻ vài nhánh lưỡi long to bằng ba, bốn ngón tay rồi dùng dao gọt bỏ những nốt u quanh thân, sau đó rửa sạch rồi thái thành sợi mỏng.
Đun sôi nước trên bếp rồi cho cá thửng vào nồi cùng với ít muối hạt và dăm lát ớt để khử mùi tanh của cá. Khi cá vừa chín tới thì cho lưỡi long thái sợi vào nồi dùng vá đảo nhẹ. Vài phút sau, thêm ít muối, đường, bột ngọt cho vừa ăn cùng với rau thơm thái nhỏ rồi nhấc xuống khỏi bếp thế là đã có món canh cá thửng nấu lưỡi long dân dã nhưng đậm đà hương vị.
< Canh cá thửng nấu lưỡi long. Dulichgo
Gắp cá ra đĩa đặt cạnh chén nước mắm pha chanh, đường, ớt, tỏi... tô canh lưỡi long sóng sánh cứ như mời gọi. Vị ngọt từ thịt cá xen lẫn với vị chua dịu từ lưỡi long, phảng phất hương thơm của rau hòa cùng với vị mặn của mắm, vị cay của ớt… cứ lưu mãi nơi đầu lưỡi. Thưởng thức canh rau lưỡi long với vị chua dịu và mát lạnh khiến bao mỏi mệt dường như tiêu tan, bữa cơm gia đình thêm phần ấm cúng.
Món cá thửng nấu canh chua lá giang chế biến khá đơn giản nhưng cũng không kém phần thơm ngon. Cũng với cá đã sơ chế, chọn thêm lá giang non tươi xanh, thêm ít giá đỗ, mớ rau thơm, rửa sạch rồi để riêng từng loại rau trước khi cho vào nấu.
Khi nước đun với ít muối đã sôi thì cho cá vào nồi, thêm vài lát ớt thái mỏng để khử mùi tanh. Đợi nước sôi trở lại vò sơ lá giang cho vào, dùng vá đảo nhẹ. Khi lá giang chuyển sang màu vàng dịu thì cho giá đỗ cùng với rau thơm cắt ngắn vào nồi, nêm thêm gia vị cho vừa ăn rồi nhấc xuống khỏi bếp.
< Cá thửng nướng chấm muối ớt. Bát canh chua với khúc cá “lửng lờ” cạnh lá giang và giá đỗ, rau thơm nhìn đã thấy hấp dẫn. Thịt cá chấm với nước mắm pha chanh, đường, ớt, tỏi hay với muối ớt đều ngon. Bát canh với vị ngọt từ cá lẫn vị chua của lá giang hòa cùng hương thơm của rau nêm khiến khách sành ăn cứ xuýt xoa khen ngợi.
Dulichgo
Nhanh gọn và đơn giản nhất là món cá thửng nướng chấm muối ớt. Cá vừa được vớt lên từ biển rửa sạch, chờ ráo nước rồi đặt lên vỉ sắt, nướng trên bếp than hồng. Giã nhuyễn muối hạt với ớt kim để chấm với món cá nướng.
Khi vảy cá cháy sém thì nhấc xuống khỏi bếp rồi bày ra đĩa. Thế là đã có món cá thửng nướng chấm muối ớt mang đậm hương vị biển khơi. Mùi cá nướng thơm phức, lan tỏa theo gió khiến nhiều người “ngẩn ngơ”. Bóc lớp vảy bên ngoài lộ ra lớp thịt cá trắng tinh trông thật bắt mắt. Vị ngọt từ thịt cá hòa quyện cùng vị mặn của muối xen lẫn vị cay của ớt cứ “vấn vương” nơi đầu lưỡi.
Cá thửng nướng chấm muối ớt là món mồi “bắn bổng” dăm ly rượu đế của các ngư phủ sau những giờ lênh đênh trên sóng nước.
Theo Minh Ký (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015
Rắn kho tương
Trước đây, rắn chỉ được chế biến thành những món ăn quen thuộc như: rắn hầm sả, rắn xào lăn, xào lá cách, rắn nướng… Nay có thêm món rắn kho tương.
Để làm món rắn kho tương, đầu bếp phải biết chọn rắn, chủ yếu là rắn hổ hành, loại từ 1kg trở lên thì thịt mới chắc và ngọt. Sau khi làm sạch, rắn được cắt ra từng đoạn vừa ăn, ướp chút muối, bột ngọt. Nước dừa tươi và tương hột ngon là nguyên liệu chủ yếu món này. Khi rắn thấm gia vị, xào nhanh trong 5 phút để thịt rắn săn lại, sau đó mới bỏ vào nồi nước dùng đang sôi. Nước dùng là hợp chất giữa nước dừa và tương hột.
Đun thịt rắn và nước dùng thêm khoảng 20-30 phút, rồi nêm nếm gia vị lần nữa cho vừa ăn. Món ăn được bày ra như món lẩu, nước dùng nhiều, cùng các loại rau nhúng phong phú: khổ qua, rau nhút, rau muống, rau cần, bắp chuối đã xắt lát mỏng...
Dulichgo
Mùi thơm thoang thoảng kích thích vị giác. Thịt rắn ngọt, dai vừa phải, vị tương lấn át mùi tanh, hòa quyện với chút đắng, nhẫn của khổ qua, mùi thơm đặc trưng của rau nhút, rau cần, chút chát nhẹ của bắp chuối tạo nên hương vị rất đặc biệt, khó quên. Món này ăn hoài không ngán, tốt cho sức khỏe, giúp ổn định đường huyết, bổ thận.
Du khách có thể thưởng thức món ăn độc đáo này tại quán Hai Lúa Cờ Đỏ, ấp 1, xã Thạnh Phú, huyện Cờ Đỏ. Ngoài rắn, nơi đây còn có nhiều món đặc sản từ đồng như: cá trê, cá chạch, chuột đồng… với cách chế biến độc đáo.
Theo Minh Nhiên (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!
Để làm món rắn kho tương, đầu bếp phải biết chọn rắn, chủ yếu là rắn hổ hành, loại từ 1kg trở lên thì thịt mới chắc và ngọt. Sau khi làm sạch, rắn được cắt ra từng đoạn vừa ăn, ướp chút muối, bột ngọt. Nước dừa tươi và tương hột ngon là nguyên liệu chủ yếu món này. Khi rắn thấm gia vị, xào nhanh trong 5 phút để thịt rắn săn lại, sau đó mới bỏ vào nồi nước dùng đang sôi. Nước dùng là hợp chất giữa nước dừa và tương hột.
Đun thịt rắn và nước dùng thêm khoảng 20-30 phút, rồi nêm nếm gia vị lần nữa cho vừa ăn. Món ăn được bày ra như món lẩu, nước dùng nhiều, cùng các loại rau nhúng phong phú: khổ qua, rau nhút, rau muống, rau cần, bắp chuối đã xắt lát mỏng...
Dulichgo
Mùi thơm thoang thoảng kích thích vị giác. Thịt rắn ngọt, dai vừa phải, vị tương lấn át mùi tanh, hòa quyện với chút đắng, nhẫn của khổ qua, mùi thơm đặc trưng của rau nhút, rau cần, chút chát nhẹ của bắp chuối tạo nên hương vị rất đặc biệt, khó quên. Món này ăn hoài không ngán, tốt cho sức khỏe, giúp ổn định đường huyết, bổ thận.Du khách có thể thưởng thức món ăn độc đáo này tại quán Hai Lúa Cờ Đỏ, ấp 1, xã Thạnh Phú, huyện Cờ Đỏ. Ngoài rắn, nơi đây còn có nhiều món đặc sản từ đồng như: cá trê, cá chạch, chuột đồng… với cách chế biến độc đáo.
Theo Minh Nhiên (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!
Ăn cơm chay xứ đạo Cao Đài
(NLĐ) - Chỉ mỗi cây chuối mà các dì, các chị ở Tòa Thánh Tây Ninh chế biến được mấy món, nào là nấu canh chua, bóp gỏi, xào với nghệ, ăn sống với tương hột,...
< Cơm Trai đường miễn phí luôn chào đón tất cả mọi người.
Năm nào cũng vậy, cứ sắp đến Tết Trung thu là khắp các ngả đường, những chiếc xe khách đủ cỡ với đủ biển số các tỉnh nối đuôi nhau đổ về Tòa Thánh Tây Ninh (huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) để dự đại lễ vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu – một trong hai lễ lớn của đạo Cao Đài.
< Rau quả hầu hết do tín đồ của đạo cung cấp.
Nhớ hồi còn nhỏ, cái cảnh người – xe nườm nượp từ khắp nơi đổ về khiến Tây Ninh vốn bình yên bỗng rộn ràng hẳn lên làm người bản xứ như tôi cũng nôn nao. Dịp này, trong đạo tổ chức triển lãm các loại hoa quả, bánh trái và múa lân, múa rồng nên nếu không đi học thì coi như bọn tôi lê la ở đó cả ngày.
Do khách thập phương đổ về dự lễ đông nên trong đạo tổ chức luôn chuyện ăn uống cho mọi người. Bất kể giờ nào, chỉ cần đến Trai đường là có cơm chay lót dạ miễn phí. Tụi tôi dù không phải khách thập phương nhưng dạo chơi đói cái bụng lại vào đây chực cơm.
Thực phẩm ở đây do người địa phương cung cấp, chế biến là do các dì, các chị, nói chung ai có gì góp nấy. Người Tây Ninh vốn sùng đạo và thích làm công quả nên Trai đường không bao giờ thiếu thực phẩm.
Dulichgo
< Các món kho chay.
Đừng nghĩ cơm chay thì đơn điệu, qua bàn tay vén khéo của các dì, các chị những thứ rau củ thường ngày bỗng thành bao nhiêu món ngon. Riêng chuối cây (được mang về từ núi Bà Đen) là có thể làm gỏi, nấu canh chua, xào với nghệ hay chấm sống với tương hột.
< Cà tím chiên.
Thực đơn những bữa cơm ở Trai đường hầu như không trùng nhau. Món mặn chủ đạo thường là muối sả và mắm sắc còn canh, rau, món xào thì thay đổi liên tục. Cũng bầu cũng bí, cũng rau muống, bắp chuối nhưng mỗi bữa cơm mỗi cách chế biến khác nhau.
< Kèo nèo bóp gỏi rau tiêu.
Còn nhớ hồi còn nhỏ, cứ tới bữa chực cơm trai đường. Không phải xin xỏ gì, cứ việc đến khu vực để chén đũa lấy một bộ rồi coi bàn nào trống thì ngồi. Tụi tôi thường phân công đứa lấy chén, đứa giành chỗ (không phải sợ thiếu đồ ăn mà giành chỗ ngồi gần nhau cho vui). Nghĩ cũng lạ, chỉ ăn canh chua rau muống, muối sả, rau sống chấm tương thôi mà ngon thấu trời.
< Rau ghém.
Dulichgo
Nhiều khi thấy toàn con nít lóc chóc, các cô các bác chạy bàn ưu ái cho thêm vài trái chuối, trái quýt tráng miệng. Sướng nhất đời rồi còn gì.
< Mắm sắc.
Lớn lên, đi học rồi đi làm xa nên đón những cái tết Trung thu ở quê nhà cứ thưa dần. Dù vậy, hễ có dịp về quê đúng rằm tháng Tám, tôi lại tranh thủ ghé Trai đường “ăn chực”. Dĩ nhiên lớn rồi có ý thức hơn, trước khi ăn cũng dành thời gian xuống bếp phụ xắt, gọt rau củ; ăn xong lại phụ rửa chén mới về.
Qua bao nhiêu năm, Trai đường vẫn rộn ràng tấp nập như ngày nào và đồ ăn ở đây thì phải nói ngon hơn, phong phú hơn gấp bội. Bây giờ đời sống khá giả, người ta hiến nhiều thức ăn hơn xưa nên cung luôn vượt cầu. Trên bàn ăn Trai đường bây giờ không chỉ 3-4 món như xưa mà có khi lên cả chục món.
Trai đường bây giờ cũng hiện đại hơn xưa, nước nôi đầy đủ, bàn ghế khang trang, cơm nấu bằng lò hấp, người phụ việc ai cũng phải đeo bao tay để bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.
Dulichgo
Lẽ thường cái gì miễn phí thì hay gặp phải cảnh chen lấy hoặc chất lượng kém nhưng cơm Trai đường ở Tòa Thánh Tây Ninh thì ngược lại. Ở đây đông thì có đông nhưng không bao giờ có cảnh bon chen, thức ăn chỉ là món chay nhưng ai ăn một lần cũng phải bất ngờ vì sao mà ngon quá đỗi.
Vì vậy, Tết Trung, có đi Tây Ninh đừng quên ghé Tòa Thánh Tây Ninh dùng một bữa cơm chay với người dân xứ đạo Cao Đài. Bảo đảm bạn sẽ không chỉ ghé 1 lần mà thôi!
Theo Ngọc Diêu (Phụ Nữ NLĐ)
Du lịch, GO!
< Cơm Trai đường miễn phí luôn chào đón tất cả mọi người.
Năm nào cũng vậy, cứ sắp đến Tết Trung thu là khắp các ngả đường, những chiếc xe khách đủ cỡ với đủ biển số các tỉnh nối đuôi nhau đổ về Tòa Thánh Tây Ninh (huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) để dự đại lễ vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu – một trong hai lễ lớn của đạo Cao Đài.
< Rau quả hầu hết do tín đồ của đạo cung cấp.
Nhớ hồi còn nhỏ, cái cảnh người – xe nườm nượp từ khắp nơi đổ về khiến Tây Ninh vốn bình yên bỗng rộn ràng hẳn lên làm người bản xứ như tôi cũng nôn nao. Dịp này, trong đạo tổ chức triển lãm các loại hoa quả, bánh trái và múa lân, múa rồng nên nếu không đi học thì coi như bọn tôi lê la ở đó cả ngày.
Do khách thập phương đổ về dự lễ đông nên trong đạo tổ chức luôn chuyện ăn uống cho mọi người. Bất kể giờ nào, chỉ cần đến Trai đường là có cơm chay lót dạ miễn phí. Tụi tôi dù không phải khách thập phương nhưng dạo chơi đói cái bụng lại vào đây chực cơm.
Thực phẩm ở đây do người địa phương cung cấp, chế biến là do các dì, các chị, nói chung ai có gì góp nấy. Người Tây Ninh vốn sùng đạo và thích làm công quả nên Trai đường không bao giờ thiếu thực phẩm.
Dulichgo
< Các món kho chay.
Đừng nghĩ cơm chay thì đơn điệu, qua bàn tay vén khéo của các dì, các chị những thứ rau củ thường ngày bỗng thành bao nhiêu món ngon. Riêng chuối cây (được mang về từ núi Bà Đen) là có thể làm gỏi, nấu canh chua, xào với nghệ hay chấm sống với tương hột.
< Cà tím chiên.
Thực đơn những bữa cơm ở Trai đường hầu như không trùng nhau. Món mặn chủ đạo thường là muối sả và mắm sắc còn canh, rau, món xào thì thay đổi liên tục. Cũng bầu cũng bí, cũng rau muống, bắp chuối nhưng mỗi bữa cơm mỗi cách chế biến khác nhau.
< Kèo nèo bóp gỏi rau tiêu.
Còn nhớ hồi còn nhỏ, cứ tới bữa chực cơm trai đường. Không phải xin xỏ gì, cứ việc đến khu vực để chén đũa lấy một bộ rồi coi bàn nào trống thì ngồi. Tụi tôi thường phân công đứa lấy chén, đứa giành chỗ (không phải sợ thiếu đồ ăn mà giành chỗ ngồi gần nhau cho vui). Nghĩ cũng lạ, chỉ ăn canh chua rau muống, muối sả, rau sống chấm tương thôi mà ngon thấu trời.
< Rau ghém.
Dulichgo
Nhiều khi thấy toàn con nít lóc chóc, các cô các bác chạy bàn ưu ái cho thêm vài trái chuối, trái quýt tráng miệng. Sướng nhất đời rồi còn gì.
< Mắm sắc.
Lớn lên, đi học rồi đi làm xa nên đón những cái tết Trung thu ở quê nhà cứ thưa dần. Dù vậy, hễ có dịp về quê đúng rằm tháng Tám, tôi lại tranh thủ ghé Trai đường “ăn chực”. Dĩ nhiên lớn rồi có ý thức hơn, trước khi ăn cũng dành thời gian xuống bếp phụ xắt, gọt rau củ; ăn xong lại phụ rửa chén mới về.
Qua bao nhiêu năm, Trai đường vẫn rộn ràng tấp nập như ngày nào và đồ ăn ở đây thì phải nói ngon hơn, phong phú hơn gấp bội. Bây giờ đời sống khá giả, người ta hiến nhiều thức ăn hơn xưa nên cung luôn vượt cầu. Trên bàn ăn Trai đường bây giờ không chỉ 3-4 món như xưa mà có khi lên cả chục món.
Trai đường bây giờ cũng hiện đại hơn xưa, nước nôi đầy đủ, bàn ghế khang trang, cơm nấu bằng lò hấp, người phụ việc ai cũng phải đeo bao tay để bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.
Dulichgo
Lẽ thường cái gì miễn phí thì hay gặp phải cảnh chen lấy hoặc chất lượng kém nhưng cơm Trai đường ở Tòa Thánh Tây Ninh thì ngược lại. Ở đây đông thì có đông nhưng không bao giờ có cảnh bon chen, thức ăn chỉ là món chay nhưng ai ăn một lần cũng phải bất ngờ vì sao mà ngon quá đỗi.
Vì vậy, Tết Trung, có đi Tây Ninh đừng quên ghé Tòa Thánh Tây Ninh dùng một bữa cơm chay với người dân xứ đạo Cao Đài. Bảo đảm bạn sẽ không chỉ ghé 1 lần mà thôi!
Theo Ngọc Diêu (Phụ Nữ NLĐ)
Du lịch, GO!
Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015
Lạ mà ngon bánh canh bột Cai Lậy
(TTO) - Nghe người bạn giới thiệu với giọng quá tự hào về món bánh canh bột thịt vịt xứ Cai Lậy (Tiền Giang), tôi rất tò mò nên cuối tuần đã quyết tâm đi Cai Lậy chỉ để thưởng thức món này. Từ bến xe miền Tây, chỉ sau hơn một giờ ngồi xe khách, đi hết đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương rồi thêm chừng 15km nữa chúng tôi đã có mặt ở Cai Lậy.
Món ngon hàng quán bình dân
Thị xã Cai Lậy không có nhiều điểm tham quan du lịch hấp dẫn như một số địa phương khác của Tiền Giang. Bởi vậy, gần như trọn ngày chủ nhật quẩn quanh ở Cai Lậy, tôi giao trọng trách cho người bạn là dân gốc Cai Lậy phải dẫn đi ăn đủ các món ngon ở thị xã này.
Có khá nhiều món thuộc diện đặc sản được bạn giới thiệu, nhưng món bánh canh bột nước lèo thịt vịt là món ăn để lại trong tôi nhiều dư vị nhất. Quán bạn dẫn tôi đến được cho có thâm niên và đắt khách nhất, dù chỉ là một quầy hàng di động bên lề đường nhỏ ngay chân cầu Cai Lậy. Quán bình dân, chỉ bày hàng bán từ tầm 15g-17g hơn là hết hàng, nhưng khách ra vào nườm nượp, ai cũng hì hụp ăn uống, có người còn mua mang về.
Tô bánh canh bột đùi vịt của tôi cuối cùng cũng được bưng lên, nóng hổi và thơm phức. Không cầu kỳ về hình thức. Bánh canh bột được múc thẳng từ một cái nồi to đùng đặt trên cái bếp nhỏ. Đùi vịt và một vài lát huyết nếp được chặt thành miếng đặt trên mặt. Trên cùng là một ít rau thơm và tiêu.
Dulichgo
Nước lèo có độ đằm, ngọt rất vừa miệng. Ai ăn mặn hơn thì có sẵn chén mắm gừng bên cạnh để bổ sung. Sợi bánh được xắt bằng tay nên vuông, không đều. Gắp thì vẫn dẻo, nhai thì lại nhanh chóng tan ra trong miệng. Vị bánh bùi bùi, beo béo chứ không sượng sật và vô vị như sợi bánh canh thông thường. Ngon nhất vẫn là thịt vịt và nước lèo. Thịt vịt không dai mà vừa độ chín mềm. Thịt cũng không vương mùi hôi đặc trưng mà được chuyển hẳn sang mùi thơm nưng nức.
Kỳ công tạo nên món đặc sản
Để làm được thứ bánh canh bột không dai nhưng vẫn không mục nát khi được nấu chung nồi nước lèo liu riu lửa cả buổi như vậy, người ta phải ngâm gạo khoảng 10 giờ trước khi xay thành bột. Ở khâu này, cần nhất là phải chọn được loại gạo có độ dai và dẻo nhất định.
Sau khi xay gạo thành bột thì cho vào dụng cụ ép khô dằn khoảng ba giờ để bột đặc lại. Có bột gạo rồi thì trộn vào đó một ít bột mì tinh để sợi bánh có độ dai vừa phải, không bị tan trong nồi nước dùng. Việc cần là phải chọn loại bột phù hợp và chú ý tỉ lệ trộn cũng như tốc độ khuấy sao cho hợp lý.
Dulichgo
Có bột bánh ưng ý, người ta cán bột lên thớt rồi dùng dao cắt sợi, đem luộc chín. Hiện nay tuy có nơi dùng máy cắt bột, nhưng ở Cai Lậy người nấu vẫn thích cán bột lên thớt để cắt bằng tay. Sợi bột nhờ đó trông thân thiện, ngon mắt hơn. Sau khi đã được luộc chín đem sợi bột ngâm nước lạnh năm phút để bỏ bớt phần nước bột, giúp nồi bánh canh trong hơn.
Trong tô bánh canh của dân Cai Lậy luôn có những lát huyết nếp đi kèm thịt vịt. Cách làm huyết nếp khá đơn giản là cho nếp vào đĩa sau đó cắt tiết vịt vào. Tùy theo khẩu vị của từng người có thể thêm hành, tiêu và gia vị vào đĩa huyết giúp huyết thơm ngon hơn.
Với việc chuẩn bị thịt vịt và nồi nước lèo, chú ý không lấy nước quá sôi nhổ lông vịt. Thịt vịt phải ướp đủ thời gian để thịt thơm, không bị hôi mùi đặc trưng. Nước sôi mới bỏ vịt vào để vịt chín đều.
Sau khi thịt vịt chín mới nêm gia vị và cho sợi bột bánh canh vào nồi nước lèo, giảm lửa cho phù hợp. Mọi thứ đã xong, tô bánh canh thơm ngon bây giờ đã sẵn sàng khỏa lấp cơn đói của bạn!
Theo MỄ THUẬN (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Món ngon hàng quán bình dân
Thị xã Cai Lậy không có nhiều điểm tham quan du lịch hấp dẫn như một số địa phương khác của Tiền Giang. Bởi vậy, gần như trọn ngày chủ nhật quẩn quanh ở Cai Lậy, tôi giao trọng trách cho người bạn là dân gốc Cai Lậy phải dẫn đi ăn đủ các món ngon ở thị xã này.
Có khá nhiều món thuộc diện đặc sản được bạn giới thiệu, nhưng món bánh canh bột nước lèo thịt vịt là món ăn để lại trong tôi nhiều dư vị nhất. Quán bạn dẫn tôi đến được cho có thâm niên và đắt khách nhất, dù chỉ là một quầy hàng di động bên lề đường nhỏ ngay chân cầu Cai Lậy. Quán bình dân, chỉ bày hàng bán từ tầm 15g-17g hơn là hết hàng, nhưng khách ra vào nườm nượp, ai cũng hì hụp ăn uống, có người còn mua mang về.
Tô bánh canh bột đùi vịt của tôi cuối cùng cũng được bưng lên, nóng hổi và thơm phức. Không cầu kỳ về hình thức. Bánh canh bột được múc thẳng từ một cái nồi to đùng đặt trên cái bếp nhỏ. Đùi vịt và một vài lát huyết nếp được chặt thành miếng đặt trên mặt. Trên cùng là một ít rau thơm và tiêu.
Dulichgo
Nước lèo có độ đằm, ngọt rất vừa miệng. Ai ăn mặn hơn thì có sẵn chén mắm gừng bên cạnh để bổ sung. Sợi bánh được xắt bằng tay nên vuông, không đều. Gắp thì vẫn dẻo, nhai thì lại nhanh chóng tan ra trong miệng. Vị bánh bùi bùi, beo béo chứ không sượng sật và vô vị như sợi bánh canh thông thường. Ngon nhất vẫn là thịt vịt và nước lèo. Thịt vịt không dai mà vừa độ chín mềm. Thịt cũng không vương mùi hôi đặc trưng mà được chuyển hẳn sang mùi thơm nưng nức.
Kỳ công tạo nên món đặc sản
Để làm được thứ bánh canh bột không dai nhưng vẫn không mục nát khi được nấu chung nồi nước lèo liu riu lửa cả buổi như vậy, người ta phải ngâm gạo khoảng 10 giờ trước khi xay thành bột. Ở khâu này, cần nhất là phải chọn được loại gạo có độ dai và dẻo nhất định.
Sau khi xay gạo thành bột thì cho vào dụng cụ ép khô dằn khoảng ba giờ để bột đặc lại. Có bột gạo rồi thì trộn vào đó một ít bột mì tinh để sợi bánh có độ dai vừa phải, không bị tan trong nồi nước dùng. Việc cần là phải chọn loại bột phù hợp và chú ý tỉ lệ trộn cũng như tốc độ khuấy sao cho hợp lý.
Dulichgo
Có bột bánh ưng ý, người ta cán bột lên thớt rồi dùng dao cắt sợi, đem luộc chín. Hiện nay tuy có nơi dùng máy cắt bột, nhưng ở Cai Lậy người nấu vẫn thích cán bột lên thớt để cắt bằng tay. Sợi bột nhờ đó trông thân thiện, ngon mắt hơn. Sau khi đã được luộc chín đem sợi bột ngâm nước lạnh năm phút để bỏ bớt phần nước bột, giúp nồi bánh canh trong hơn.
Trong tô bánh canh của dân Cai Lậy luôn có những lát huyết nếp đi kèm thịt vịt. Cách làm huyết nếp khá đơn giản là cho nếp vào đĩa sau đó cắt tiết vịt vào. Tùy theo khẩu vị của từng người có thể thêm hành, tiêu và gia vị vào đĩa huyết giúp huyết thơm ngon hơn.
Với việc chuẩn bị thịt vịt và nồi nước lèo, chú ý không lấy nước quá sôi nhổ lông vịt. Thịt vịt phải ướp đủ thời gian để thịt thơm, không bị hôi mùi đặc trưng. Nước sôi mới bỏ vịt vào để vịt chín đều.
Sau khi thịt vịt chín mới nêm gia vị và cho sợi bột bánh canh vào nồi nước lèo, giảm lửa cho phù hợp. Mọi thứ đã xong, tô bánh canh thơm ngon bây giờ đã sẵn sàng khỏa lấp cơn đói của bạn!
Theo MỄ THUẬN (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015
Mắm tép cù lao Minh
Ở các sông rạch nước ngọt thuộc vùng cù lao Minh của tỉnh Bến Tre có rất nhiều tép bạc đất, kích thước cỡ hơn đầu đũa một chút, màu trắng, thịt trong, ngon, là nguyên liệu để làm mắm tép thích hợp nhất so với các loại tôm tép khác.
Người ta thu hoạch tép bằng cách chài lưới, đóng đáy trên sông rạch, đặt nò, lú trên ruộng… Tép bạc còn tươi rói, nhảy tanh tách, được chọn lấy những con tương đối bằng nhau, cắt đầu đuôi, rửa sạch để ráo.
Sau đó ngâm tép với rượu trắng một hai hôm, khi tép lên màu hồng nhạt thì vớt ra sắp vào keo, lọ. Đập dập vài tép tỏi và xắt vài lát riềng trộn sơ với tép.
< Mắm tép với thịt ba chỉ, đu đủ bào, rau thơm.
Nước mắm ngon nấu với đường cát trắng để nguội rồi đổ vào keo tép, đậy kín lại, đem phơi nắng vài hôm, khi thấy mắm trở màu hồng tươi và có mùi thơm là mắm đã chín nắng và dùng đuợc.
Dulichgo
Có nhiều cách ăn mắm tép, từ đơn giản đến cầu kỳ: ăn sống nguyên chất với cơm nguội hoặc kết hợp với đu đủ mỏ vịt; trộn mắm tép với gừng, tỏi, ớt làm nước chấm ăn với cá lóc nướng trui hay cá lóc chiên xù kèm rau thơm; cuốn bánh tráng với mắm tép, thịt ba rọi và tôm đất luộc lột vỏ…
Thịt heo luộc, rau thơm, khế xanh, khóm, gừng, bún rất hạp với mắm tép. Thật khoái khẩu khi nhai con mắm tép mềm dịu, thơm thơm cùng với miếng thịt phay xắt mỏng, kẹp ít rau thơm, khế, chuối chát, sợi đu đủ bào nhuyễn…
< Một sạp mắm tép ở chợ Mỏ Cày Nam.
Dulichgo
Trong nhà lồng chợ thực phẩm thị trấn Mỏ Cày Nam có cửa hàng mắm tép của chị Ba Thu, đã nổi tiếng từ trước năm 1975, nơi du khách có thể mua được những keo mắm thật ngon, sạch đẹp, bắt mắt.
Tỉnh Bến Tre được hình thành bởi ba cù lao lớn là Minh, Bảo và An Hóa nằm giữa bốn con sông Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên.
Cù lao Minh gồm các huyện Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú, có các vùng thổ nhưỡng nước ngọt, lợ, mặn với nhiều nét văn hóa, ẩm thực đặc trưng.
Theo Đặng Hoàng Thám (DNSGCT)
Du lịch, GO!
Người ta thu hoạch tép bằng cách chài lưới, đóng đáy trên sông rạch, đặt nò, lú trên ruộng… Tép bạc còn tươi rói, nhảy tanh tách, được chọn lấy những con tương đối bằng nhau, cắt đầu đuôi, rửa sạch để ráo.
Sau đó ngâm tép với rượu trắng một hai hôm, khi tép lên màu hồng nhạt thì vớt ra sắp vào keo, lọ. Đập dập vài tép tỏi và xắt vài lát riềng trộn sơ với tép.
< Mắm tép với thịt ba chỉ, đu đủ bào, rau thơm.
Nước mắm ngon nấu với đường cát trắng để nguội rồi đổ vào keo tép, đậy kín lại, đem phơi nắng vài hôm, khi thấy mắm trở màu hồng tươi và có mùi thơm là mắm đã chín nắng và dùng đuợc.
Dulichgo
Có nhiều cách ăn mắm tép, từ đơn giản đến cầu kỳ: ăn sống nguyên chất với cơm nguội hoặc kết hợp với đu đủ mỏ vịt; trộn mắm tép với gừng, tỏi, ớt làm nước chấm ăn với cá lóc nướng trui hay cá lóc chiên xù kèm rau thơm; cuốn bánh tráng với mắm tép, thịt ba rọi và tôm đất luộc lột vỏ…
Thịt heo luộc, rau thơm, khế xanh, khóm, gừng, bún rất hạp với mắm tép. Thật khoái khẩu khi nhai con mắm tép mềm dịu, thơm thơm cùng với miếng thịt phay xắt mỏng, kẹp ít rau thơm, khế, chuối chát, sợi đu đủ bào nhuyễn…
< Một sạp mắm tép ở chợ Mỏ Cày Nam.
Dulichgo
Trong nhà lồng chợ thực phẩm thị trấn Mỏ Cày Nam có cửa hàng mắm tép của chị Ba Thu, đã nổi tiếng từ trước năm 1975, nơi du khách có thể mua được những keo mắm thật ngon, sạch đẹp, bắt mắt.
Tỉnh Bến Tre được hình thành bởi ba cù lao lớn là Minh, Bảo và An Hóa nằm giữa bốn con sông Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên.
Cù lao Minh gồm các huyện Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú, có các vùng thổ nhưỡng nước ngọt, lợ, mặn với nhiều nét văn hóa, ẩm thực đặc trưng.
Theo Đặng Hoàng Thám (DNSGCT)
Du lịch, GO!
Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2015
Kỳ lạ... tiết canh ong.
(NNO) - Để có được món tiết canh ong “độc nhất vô nhị” trên bàn nhậu, những người thợ săn đã phải trải qua nhiều gian nan, vất vả, thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Tiết canh ong rất ngọt, béo, thơm, có vị lạ hơn bất kì món tiết canh nào khác. Tuy món tiết canh ong được đánh giá là món "đệ nhất” nhưng không phải ai cũng dám ăn, vì cứ mười người ăn thì có ba đến bốn người bị dị ứng.
Ở Việt Nam, người ta đã làm tiết canh lợn, dê, vịt, ngan,... Nhưng tiết canh ong thì quả thật đây là lần đầu tiên tôi được tận mắt thấy. Quả là kỳ lạ và khiến không ít người tò mò.
Gian nan
Để có được món tiết canh ong “độc nhất vô nhị” trên bàn nhậu, những người thợ săn đã phải trải qua nhiều gian nan, vất vả, thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng.
< Anh Ngọc châm đuốc cho đồng đội đốt tổ ong.
Bám càng đội săn ong của anh Phạm Văn Ngọc (48 tuổi trú tại xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An), tôi mới hiểu hết được nỗi cực nhọc của họ. Suốt một tuần rong ruổi ở các dãy núi thấp tìm tổ ong mới biết, để tìm được loài ong rừng quý là điều không hề đơn giản. Núi rừng nơi đây có nhiều loài ong nhưng theo những thợ săn, để tìm được loài ong đánh tiết canh được thì không dễ.
Dulichgo
Đó là những loài phải có kén lớn như ong trang, ong dần chuyên đào hang làm tổ dưới đất. Hoặc chí ít cũng phải săn được tổ ong vò vẽ thì mới có được món tiết canh ngon.
Muốn săn được ong thì đầu tiên phải theo dõi tổ của chúng. Việc theo dõi ong cũng tùy thuộc vào từng loại khác nhau. Ong vò vẽ khá dễ dàng, chỉ cần khi vào đến rừng chú ý quan sát chỗ nào có nhiều ong thợ bay ra bay vào thì sẽ thấy tổ. Còn việc tìm tổ ong trang hay ong dần thì khó hơn muôn lần vì chúng ở sâu trong lòng đất, không giống như những loại sống trên cây, có thể dễ dàng quan sát thấy từng tổ một.
Để phát hiện ra “đại bản doanh” của chúng, người đi rừng chỉ còn cách lần theo dấu vết của từng chú ong. Món khoái khẩu của ong đất là các loại côn trùng, thịt tươi sống. Thế nên, thợ săn chuẩn bị sẵn một miếng thịt lợn hoặc bò tươi ngon để nhử ong. Khi ong đã say mồi, sẽ lập tức tha về tổ.
< Tổ ong chứa nhiều nhộng mới được thợ săn chú ý.
Phát hiện ra ong cắn mồi đã khó nhưng để không mất dấu ong còn khó hơn và nhiều khi thất bại. Ong làm tổ trong rừng, địa hình hiểm trở, ong bay thì dễ nhưng người chạy theo thì không hề đơn giản. Nhiều đội lên rừng ăn chực nằm chờ, theo dõi vài ngày liền mà vẫn phải quay về tay trắng.
Anh Ngọc cho biết: “Ngày trước, nơi đây ong rất nhiều, chỉ một buổi đi đốt ong có thể mang về mấy tổ liền. Nhưng dần dần, việc đốt ong để lấy nhộng chế biến món ăn trở nên khó khăn hơn. Rừng bị chặt phá để trồng cây công nghiệp, làm nương rẫy nhiều nên không còn nhiều chỗ cho ong trú ẩn, làm tổ. Người săn ong phải vào tận rừng sâu và việc tìm kiếm trở nên vô cùng khó khăn".
Kỹ nghệ bắt ong
Sau khi phát hiện tổ ong, bước tiếp theo là bắt chúng và đây không phải là công việc dành cho những người “bé gan”.
Để đốt được tổ ong, vật dụng không thể thiếu là bó đuốc (cây nứa khô), lá cọ khô, hoặc lốp cao su… Người thợ săn ong kinh nghiệm sẽ dễ dàng phát hiện cửa vào và cửa ra của ong. Bó đuốc hoặc lốp cao su sẽ được đốt sẵn bên ngoài và đâm thẳng vào cửa của tổ ong. Đàn ong bị tấn công bất ngờ sẽ mắc kẹt trong tổ, nghẹt khói và chết hoàn toàn.
Anh Ngọc cho biết: “Ngày trước, nơi đây ong rất nhiều, chỉ một buổi đi đốt ong có thể mang về mấy tổ liền. Nhưng dần dần, việc đốt ong để lấy nhộng chế biến món ăn trở nên khó khăn hơn.
Dulichgo
Rừng bị chặt phá để trồng cây công nghiệp, làm nương rẫy nhiều nên không còn nhiều chỗ cho ong trú ẩn, làm tổ. Người săn ong phải vào tận rừng sâu và việc tìm kiếm trở nên vô cùng khó khăn". Những con ong vừa đi kiếm mồi về hoặc may mắn thoát ra khỏi tổ thấy có kẻ lạ chắc chắn sẽ lao xuống tấn công đám thợ. Khi ấy, người thợ săn phải dùng cành cây tươi xua đuổi và nhanh chóng thoát khỏi hiện trường.
Thông thường, việc đốt ong phải diễn ra thật nhanh gọn để tránh sự tấn công của những con ong còn chưa về tổ. Đấy là bắt ong vò vẽ, còn việc bắt ong trang, ong dần thì khó hơn gấp bội vì chúng làm tổ ở các gốc cây mục rỗng hay dưới mô đất rất khó đào hay đốt.
Thứ hai là do loài này có lượng độc tố rất lớn, gấp 5 lần ong vò vẽ, một người nếu bị đốt từ 5 đến 7 mũi, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ nguy hiểm đến tính mạng nên săn chúng phải dùng phương pháp khác.
< Nhộng ong.
Bắt ong trang, ong dần thường diễn ra vào ban đêm. Sau khi lấy đèn pin soi hết tất cả các lỗ ra vào tổ, từ cổng chính, cổng phụ một cách cẩn thận thì họ sẽ nấu một nồi nước sôi thật lớn rồi cho vào 3 đến 4 chiếc ấm nhôm có vòi.
Dulichgo
Sau khi 3 đến 4 người thợ săn chia nhau mỗi người một lỗ đồng thanh hô 1, 2, 3 rồi cùng một lúc đổ nước vào. Đổ hết nồi nước lớn thì họ mới đào hang lấy kén và tổ ra. Tuy công việc được thợ săn ong nơi đây chuẩn bị rất cẩn thận nhưng cũng không ít lần gặp nạn. Anh Ngọc kể: Có nhiều hôm chuẩn bị cẩn thận lắm nhưng cuối cùng cũng bị ong đốt đến suýt mất mạng.
Theo đám thợ, họ bị ong đốt không hiếm nhưng vì có cách để giải độc nên không nguy đến tính mạng. Anh Ngọc cho biết, người bị ong đốt phải nhanh chóng được sơ cứu ban đầu. Trước hết phải nhổ ngay kim chích. Dùng củ, lá môn hoặc măng vòi non chà xát tại chỗ. Nếu bị đốt ở gần nhà thì dùng đường đen hay giấm chua thoa ngay lên vết thương. Dùng bã trà còn ướt xát tại chỗ để giúp giảm đau. Cũng có thể lấy rau sam hay lá hẹ giã nhuyễn đắp tại chỗ, hoặc gừng tươi cắt lát chà xát vết thương.
Đối với giống ong có độc thì lấy rau dền vò nát, xát vào vết đốt. Sau khi sơ cứu ban đầu thì cho nạn nhân uống nước gừng tươi giã nhỏ và chuyển gấp đến trạm y tế xã để cấp cứu.
Món tiết canh có “một không hai”
Người dân nơi đây săn ong rừng lấy nhộng không phải để buôn bán mà chỉ để chế biến món ăn trong gia đình hoặc làm quà biếu, bởi nhộng ong được xem là đặc sản quý hiếm của núi rừng và không phải mùa nào cũng có. Anh Ngọc cho biết: “Dân mình hễ con gì có máu mà ăn được đều đánh tiết canh. Nhưng ở đây con không có máu mà đánh tiết canh được mới tài. Dân các nơi đánh tiết canh thỏ, dê, rắn, tê tê... còn thua xa bọn tôi món tiết canh ong”.
Dulichgo
< Kén ong được rang chín trước lúc chế biến món tiết canh.
Làm tiết canh ong chẳng khác gì mấy so với tiết canh các con vật khác. Nhưng vì ong là loài không có tiết nên nó được thay thế bằng tiết lợn, hoặc tiết vịt và chế biến có phần công phu hơn.
Sau khi săn ong về, người ta tách kén ong ra khỏi tổ. Trong một tổ ong thường có hai loại kén, đó là kén mỡ và kén phân (kén mỡ sẽ nở thành ong). Để đánh tiết canh ngon thì người ta chọn những con kén mỡ to, có màu vàng óng ánh.
Sau khi chọn được nhộng ong thì đưa lên chảo phi hành mỡ cho kén ong chín và đổ ra bát dùng tiết heo hoặc tiết vịt hãm như các món tiết canh khác. Cho thêm ít rau thơm như ngò gai, rau húng băm nhuyễn… làm cho món ăn đa dạng hương vị và ngon miệng hơn.
Tiết canh ong rất ngọt, béo, thơm, có vị lạ hơn bất kì món tiết canh nào khác. Tuy món tiết canh ong được đánh giá là món "đệ nhất” nhưng không phải ai cũng dám ăn, vì cứ mười người ăn thì có ba đến bốn người bị dị ứng.
Người nào ăn không quen sẽ bị nổi mề đay khắp người, phải xát lá khế, uống nước gừng, nhiều trường hợp nặng phải đưa đến trạm y tế truyền nước. Với nhiều người, săn ong đất như thú vui, chinh phục những thử thách trong rừng. Cảm giác tận hưởng thành quả với món nhộng ong hấp thơm phức trên bàn rượu khiến nhiều người nơi đây say mê.
Theo Sỹ Hồ (Nông nghiệp Việt Nam)
Du lịch, GO!
Tiết canh ong rất ngọt, béo, thơm, có vị lạ hơn bất kì món tiết canh nào khác. Tuy món tiết canh ong được đánh giá là món "đệ nhất” nhưng không phải ai cũng dám ăn, vì cứ mười người ăn thì có ba đến bốn người bị dị ứng.
Ở Việt Nam, người ta đã làm tiết canh lợn, dê, vịt, ngan,... Nhưng tiết canh ong thì quả thật đây là lần đầu tiên tôi được tận mắt thấy. Quả là kỳ lạ và khiến không ít người tò mò.
Gian nan
Để có được món tiết canh ong “độc nhất vô nhị” trên bàn nhậu, những người thợ săn đã phải trải qua nhiều gian nan, vất vả, thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng.
< Anh Ngọc châm đuốc cho đồng đội đốt tổ ong.
Bám càng đội săn ong của anh Phạm Văn Ngọc (48 tuổi trú tại xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An), tôi mới hiểu hết được nỗi cực nhọc của họ. Suốt một tuần rong ruổi ở các dãy núi thấp tìm tổ ong mới biết, để tìm được loài ong rừng quý là điều không hề đơn giản. Núi rừng nơi đây có nhiều loài ong nhưng theo những thợ săn, để tìm được loài ong đánh tiết canh được thì không dễ.
Dulichgo
Đó là những loài phải có kén lớn như ong trang, ong dần chuyên đào hang làm tổ dưới đất. Hoặc chí ít cũng phải săn được tổ ong vò vẽ thì mới có được món tiết canh ngon.
Muốn săn được ong thì đầu tiên phải theo dõi tổ của chúng. Việc theo dõi ong cũng tùy thuộc vào từng loại khác nhau. Ong vò vẽ khá dễ dàng, chỉ cần khi vào đến rừng chú ý quan sát chỗ nào có nhiều ong thợ bay ra bay vào thì sẽ thấy tổ. Còn việc tìm tổ ong trang hay ong dần thì khó hơn muôn lần vì chúng ở sâu trong lòng đất, không giống như những loại sống trên cây, có thể dễ dàng quan sát thấy từng tổ một.
Để phát hiện ra “đại bản doanh” của chúng, người đi rừng chỉ còn cách lần theo dấu vết của từng chú ong. Món khoái khẩu của ong đất là các loại côn trùng, thịt tươi sống. Thế nên, thợ săn chuẩn bị sẵn một miếng thịt lợn hoặc bò tươi ngon để nhử ong. Khi ong đã say mồi, sẽ lập tức tha về tổ.
< Tổ ong chứa nhiều nhộng mới được thợ săn chú ý.
Phát hiện ra ong cắn mồi đã khó nhưng để không mất dấu ong còn khó hơn và nhiều khi thất bại. Ong làm tổ trong rừng, địa hình hiểm trở, ong bay thì dễ nhưng người chạy theo thì không hề đơn giản. Nhiều đội lên rừng ăn chực nằm chờ, theo dõi vài ngày liền mà vẫn phải quay về tay trắng.
Anh Ngọc cho biết: “Ngày trước, nơi đây ong rất nhiều, chỉ một buổi đi đốt ong có thể mang về mấy tổ liền. Nhưng dần dần, việc đốt ong để lấy nhộng chế biến món ăn trở nên khó khăn hơn. Rừng bị chặt phá để trồng cây công nghiệp, làm nương rẫy nhiều nên không còn nhiều chỗ cho ong trú ẩn, làm tổ. Người săn ong phải vào tận rừng sâu và việc tìm kiếm trở nên vô cùng khó khăn".
Kỹ nghệ bắt ong
Sau khi phát hiện tổ ong, bước tiếp theo là bắt chúng và đây không phải là công việc dành cho những người “bé gan”.
Để đốt được tổ ong, vật dụng không thể thiếu là bó đuốc (cây nứa khô), lá cọ khô, hoặc lốp cao su… Người thợ săn ong kinh nghiệm sẽ dễ dàng phát hiện cửa vào và cửa ra của ong. Bó đuốc hoặc lốp cao su sẽ được đốt sẵn bên ngoài và đâm thẳng vào cửa của tổ ong. Đàn ong bị tấn công bất ngờ sẽ mắc kẹt trong tổ, nghẹt khói và chết hoàn toàn.
Anh Ngọc cho biết: “Ngày trước, nơi đây ong rất nhiều, chỉ một buổi đi đốt ong có thể mang về mấy tổ liền. Nhưng dần dần, việc đốt ong để lấy nhộng chế biến món ăn trở nên khó khăn hơn.
Dulichgo
Rừng bị chặt phá để trồng cây công nghiệp, làm nương rẫy nhiều nên không còn nhiều chỗ cho ong trú ẩn, làm tổ. Người săn ong phải vào tận rừng sâu và việc tìm kiếm trở nên vô cùng khó khăn". Những con ong vừa đi kiếm mồi về hoặc may mắn thoát ra khỏi tổ thấy có kẻ lạ chắc chắn sẽ lao xuống tấn công đám thợ. Khi ấy, người thợ săn phải dùng cành cây tươi xua đuổi và nhanh chóng thoát khỏi hiện trường.
Thông thường, việc đốt ong phải diễn ra thật nhanh gọn để tránh sự tấn công của những con ong còn chưa về tổ. Đấy là bắt ong vò vẽ, còn việc bắt ong trang, ong dần thì khó hơn gấp bội vì chúng làm tổ ở các gốc cây mục rỗng hay dưới mô đất rất khó đào hay đốt.
Thứ hai là do loài này có lượng độc tố rất lớn, gấp 5 lần ong vò vẽ, một người nếu bị đốt từ 5 đến 7 mũi, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ nguy hiểm đến tính mạng nên săn chúng phải dùng phương pháp khác.
< Nhộng ong.
Bắt ong trang, ong dần thường diễn ra vào ban đêm. Sau khi lấy đèn pin soi hết tất cả các lỗ ra vào tổ, từ cổng chính, cổng phụ một cách cẩn thận thì họ sẽ nấu một nồi nước sôi thật lớn rồi cho vào 3 đến 4 chiếc ấm nhôm có vòi.
Dulichgo
Sau khi 3 đến 4 người thợ săn chia nhau mỗi người một lỗ đồng thanh hô 1, 2, 3 rồi cùng một lúc đổ nước vào. Đổ hết nồi nước lớn thì họ mới đào hang lấy kén và tổ ra. Tuy công việc được thợ săn ong nơi đây chuẩn bị rất cẩn thận nhưng cũng không ít lần gặp nạn. Anh Ngọc kể: Có nhiều hôm chuẩn bị cẩn thận lắm nhưng cuối cùng cũng bị ong đốt đến suýt mất mạng.
Theo đám thợ, họ bị ong đốt không hiếm nhưng vì có cách để giải độc nên không nguy đến tính mạng. Anh Ngọc cho biết, người bị ong đốt phải nhanh chóng được sơ cứu ban đầu. Trước hết phải nhổ ngay kim chích. Dùng củ, lá môn hoặc măng vòi non chà xát tại chỗ. Nếu bị đốt ở gần nhà thì dùng đường đen hay giấm chua thoa ngay lên vết thương. Dùng bã trà còn ướt xát tại chỗ để giúp giảm đau. Cũng có thể lấy rau sam hay lá hẹ giã nhuyễn đắp tại chỗ, hoặc gừng tươi cắt lát chà xát vết thương.
Đối với giống ong có độc thì lấy rau dền vò nát, xát vào vết đốt. Sau khi sơ cứu ban đầu thì cho nạn nhân uống nước gừng tươi giã nhỏ và chuyển gấp đến trạm y tế xã để cấp cứu.
Món tiết canh có “một không hai”
Người dân nơi đây săn ong rừng lấy nhộng không phải để buôn bán mà chỉ để chế biến món ăn trong gia đình hoặc làm quà biếu, bởi nhộng ong được xem là đặc sản quý hiếm của núi rừng và không phải mùa nào cũng có. Anh Ngọc cho biết: “Dân mình hễ con gì có máu mà ăn được đều đánh tiết canh. Nhưng ở đây con không có máu mà đánh tiết canh được mới tài. Dân các nơi đánh tiết canh thỏ, dê, rắn, tê tê... còn thua xa bọn tôi món tiết canh ong”.
Dulichgo
< Kén ong được rang chín trước lúc chế biến món tiết canh.
Làm tiết canh ong chẳng khác gì mấy so với tiết canh các con vật khác. Nhưng vì ong là loài không có tiết nên nó được thay thế bằng tiết lợn, hoặc tiết vịt và chế biến có phần công phu hơn.
Sau khi săn ong về, người ta tách kén ong ra khỏi tổ. Trong một tổ ong thường có hai loại kén, đó là kén mỡ và kén phân (kén mỡ sẽ nở thành ong). Để đánh tiết canh ngon thì người ta chọn những con kén mỡ to, có màu vàng óng ánh.
Sau khi chọn được nhộng ong thì đưa lên chảo phi hành mỡ cho kén ong chín và đổ ra bát dùng tiết heo hoặc tiết vịt hãm như các món tiết canh khác. Cho thêm ít rau thơm như ngò gai, rau húng băm nhuyễn… làm cho món ăn đa dạng hương vị và ngon miệng hơn.
Tiết canh ong rất ngọt, béo, thơm, có vị lạ hơn bất kì món tiết canh nào khác. Tuy món tiết canh ong được đánh giá là món "đệ nhất” nhưng không phải ai cũng dám ăn, vì cứ mười người ăn thì có ba đến bốn người bị dị ứng.
Người nào ăn không quen sẽ bị nổi mề đay khắp người, phải xát lá khế, uống nước gừng, nhiều trường hợp nặng phải đưa đến trạm y tế truyền nước. Với nhiều người, săn ong đất như thú vui, chinh phục những thử thách trong rừng. Cảm giác tận hưởng thành quả với món nhộng ong hấp thơm phức trên bàn rượu khiến nhiều người nơi đây say mê.
Theo Sỹ Hồ (Nông nghiệp Việt Nam)
Du lịch, GO!
Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015
Bánh xèo cá cơm săn và ngẫu hứng ở chợ quê
(CPN) - Đến Ninh Thuận, nhiều du khách đã quen với những chiếc bánh xèo tôm, mực, thịt, trứng… như mang hết những tươi ngọt của biển, của đồng vào bụng, vào trí nhớ. Nhưng trải nghiệm một chiếc bánh xèo đầy ngẫu hứng đúng chất dân quê thì không phải ai cũng dễ dàng có được.
Khí hậu miền duyên hải dễ vắt kiệt năng lượng của người độc hành trên cung đường ven biển dư gió, thừa nắng xứ Phan Rang. Một thoáng cồn cào cái bụng dẫn ta đến khám phá tình cờ khi lạc vào một ngôi chợ quê ven biển. Một ngôi chợ bé nhỏ với dăm ba túm hàng hóa nhưng cũng đủ để người ta tụ lại và thân thương gọi đó là chợ.
< Sạp bánh xèo ở chợ quê miền biển.
Sà vào một hàng bánh xèo ở mé đầu cái chợ, ta không khỏi ngạc nhiên vì sự đơn sơ đến kỳ lạ của cái bánh và nước mắm chấm ở đây. Cũng bột gạo xay nhưng cái bánh trắng nhợt nhạt (vì không được pha bột màu nghệ như các vùng khác). Nước mắm cũng đơn sơ với mắm nêm ít dậy mùi và nước mắm tỏi ớt bình thường. Nhìn cái bánh xém đen ở chính giữa, ta dễ biết cái bánh đó không lạm dụng nhiều dầu mỡ.
Dulichgo
Đi dọc làng, quán bánh xèo nào cũng có một kiểu đơn giản như vậy. Cái hay ở đây là tính ngẫu hứng rất cao của cái bánh và người bán bánh. Nhờ ở trong chợ nên nếu hôm đó chợ có nguyên liệu gì thì ngày hôm đó sẽ có loại bánh tương ứng.
< Cá cơm săn tươi rói chỉ có thể tìm thấy ở chợ quê vùng duyên hải.
Lần đầu tiên trong đời tôi được ăn bánh xèo cá cơm săn. Những con cá cơm săn tươi rói với hàng sống lưng còn xanh mướt mát gợi cảm chẳng mấy chốc chuyển từ tay chị bán cá đến tay dì bán bánh xèo. Vèo vèo làm sạch trong mấy mươi nốt nhạc, bàn tay thoăn thoắt của dì đưa những con cá cong lên vì tươi lên khuôn. Xèo xèo, một dĩa bánh xèo nghi ngút khói để sẵn trên bàn.
Vẫn là kiểu hào phóng của xứ hải sản, cái bánh xèo ngọt lịm và thơm thơm mùi cá mới rất bắt với nước mắm nhờ mật độ cá rất dày trên một diện tích… cái bánh. Năm ngàn đồng một rổ nhỏ cá cơm, tha hồ xuýt xoa vì ngon và vì no quá.
< Đơn sơ nhưng rất ngon.
Nếu bạn muốn ăn bánh xèo sò, bánh xèo ruốc, bánh xèo trứng cút, bánh xèo cá ngừ hột lựu*… bạn cứ thử đề nghị với người bán bởi vì chợ gần bên, bởi vì người bán luôn sẵn sàng để thực khách thử những hương vị khác nhau. Bởi vậy mà không như các hàng quán phố thị, hàng bánh xèo quê chỉ giản đơn với những nguyên liệu cơ bản, khách hàng sẽ là người quyết định hương vị của món ăn.
Dulichgo
Có phải chăng vì tính linh hoạt này mà chiếc bánh xèo ở đây vô cùng tối giản như một chất kết dính, một cái nền để tôn lên những hương sắc khác? Với tôi, đằng sau chiếc bánh xèo là cả một câu chuyện về phong hóa, về con người.
* Thậm chí cả bánh xèo 'chay', tức là chỉ có bột, giá, rau sống... khi người bán và cả chợ không còn gì... để bán - giá chỉ 500 đồng/cái.
Theo Sương Nguyễn (Chuyện Phụ Nữ)
Du lịch, GO!
Khí hậu miền duyên hải dễ vắt kiệt năng lượng của người độc hành trên cung đường ven biển dư gió, thừa nắng xứ Phan Rang. Một thoáng cồn cào cái bụng dẫn ta đến khám phá tình cờ khi lạc vào một ngôi chợ quê ven biển. Một ngôi chợ bé nhỏ với dăm ba túm hàng hóa nhưng cũng đủ để người ta tụ lại và thân thương gọi đó là chợ.
< Sạp bánh xèo ở chợ quê miền biển.
Sà vào một hàng bánh xèo ở mé đầu cái chợ, ta không khỏi ngạc nhiên vì sự đơn sơ đến kỳ lạ của cái bánh và nước mắm chấm ở đây. Cũng bột gạo xay nhưng cái bánh trắng nhợt nhạt (vì không được pha bột màu nghệ như các vùng khác). Nước mắm cũng đơn sơ với mắm nêm ít dậy mùi và nước mắm tỏi ớt bình thường. Nhìn cái bánh xém đen ở chính giữa, ta dễ biết cái bánh đó không lạm dụng nhiều dầu mỡ.
Dulichgo
Đi dọc làng, quán bánh xèo nào cũng có một kiểu đơn giản như vậy. Cái hay ở đây là tính ngẫu hứng rất cao của cái bánh và người bán bánh. Nhờ ở trong chợ nên nếu hôm đó chợ có nguyên liệu gì thì ngày hôm đó sẽ có loại bánh tương ứng.
< Cá cơm săn tươi rói chỉ có thể tìm thấy ở chợ quê vùng duyên hải.
Lần đầu tiên trong đời tôi được ăn bánh xèo cá cơm săn. Những con cá cơm săn tươi rói với hàng sống lưng còn xanh mướt mát gợi cảm chẳng mấy chốc chuyển từ tay chị bán cá đến tay dì bán bánh xèo. Vèo vèo làm sạch trong mấy mươi nốt nhạc, bàn tay thoăn thoắt của dì đưa những con cá cong lên vì tươi lên khuôn. Xèo xèo, một dĩa bánh xèo nghi ngút khói để sẵn trên bàn.
Vẫn là kiểu hào phóng của xứ hải sản, cái bánh xèo ngọt lịm và thơm thơm mùi cá mới rất bắt với nước mắm nhờ mật độ cá rất dày trên một diện tích… cái bánh. Năm ngàn đồng một rổ nhỏ cá cơm, tha hồ xuýt xoa vì ngon và vì no quá.
< Đơn sơ nhưng rất ngon.
Nếu bạn muốn ăn bánh xèo sò, bánh xèo ruốc, bánh xèo trứng cút, bánh xèo cá ngừ hột lựu*… bạn cứ thử đề nghị với người bán bởi vì chợ gần bên, bởi vì người bán luôn sẵn sàng để thực khách thử những hương vị khác nhau. Bởi vậy mà không như các hàng quán phố thị, hàng bánh xèo quê chỉ giản đơn với những nguyên liệu cơ bản, khách hàng sẽ là người quyết định hương vị của món ăn.
Dulichgo
Có phải chăng vì tính linh hoạt này mà chiếc bánh xèo ở đây vô cùng tối giản như một chất kết dính, một cái nền để tôn lên những hương sắc khác? Với tôi, đằng sau chiếc bánh xèo là cả một câu chuyện về phong hóa, về con người.
* Thậm chí cả bánh xèo 'chay', tức là chỉ có bột, giá, rau sống... khi người bán và cả chợ không còn gì... để bán - giá chỉ 500 đồng/cái.
Theo Sương Nguyễn (Chuyện Phụ Nữ)
Du lịch, GO!
Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015
Phi Cầu Sài - Đặc sản Phú Thọ
Người Thanh Hóa ngày nay vẫn còn truyền nhau câu chuyện về một món ăn đã từng nức tiếng gần xa, được cung kính dâng vua vào thời Lê Trung Hưng thế kỷ thứ 16, trở thành nét phong vị riêng của xứ Thanh, gần gũi, dung dị nhưng đậm đà. Ấy là món Phi Cầu Sài, vẫn được ưu ái gọi là Phi tiến vua…
Giữa trưa hè như đổ lửa mà nghe tiếng rao ấy thì cảm thấy dịu hẳn lại. Tiếng rao của các bà các chị bán rong Phi ngân dài qua các ngả đường của thành phố Thanh Hoá, văng vẳng từ những ngày xa xưa cho tới tận hôm nay…
Con Phi, là một loại hải sản vừa sống ở nước mặn, vừa sống ở nước lợ. Phi có ở nhiều nơi vùng ven biển Thanh Hóa như Hải Lộc (Hậu Lộc), Lạch Ghép (Quảng Xương), Lạch Hới (Sầm Sơn). Những vùng này là nước mặn, nên Phi thường nhỏ con, chỉ dài khoảng 10 cm. Khi ăn, mùi vị chẳng khác gì con Trai biển.
Gọi là Phi Cầu Sài là vì Phi ấy phải ở tại Cầu Sài mới đậm đà. Nó chỉ ngon ở ngay chính vùng đất ấy. Cũng như nhãn lồng Hưng Yên đem trồng nơi khác, đâu còn ngon nữa.
Dulichgo
Phi Cầu Sài trông giống con trai biển, nhưng vỏ mỏng hơn. Con lớn nhất dài cả gang tay. Ruột Phi dầy trắng ngần, có hai tua dài. Đây là món đặc sản quý hiếm, vì ngoài vùng Cầu Sài ra, không nơi nào trong cả nước, có loài Phi như thế.
Cách ăn Phi hết sức đơn giản mà lại ngon tuyệt vời. Có thể chế biến Phi Cầu Sài thành các món xào, rán, nấu canh hay cháo. Nhưng thông thường là nấu canh và rán.
Ngâm Phi trong nước muối nhạt, để Phi nhả hết cát. Phi làm sống mới giữ được hương vị đặc trưng. Dùng mũi dao nhọn tách con Phi ra khỏi vỏ, hứng lấy nước từ ruột Phi chảy ra, để một lát cho cát lắng xuống, rồi chắt lấy nước trong cho vào nồi; thêm một lượng nước vừa đủ để nấu canh. Chuẩn bị sẵn hành tươi thái khúc, mươi cái lá chanh bánh tẻ rửa sạch thái chỉ. Đun nước sôi lên, nêm một lượng muối vừa đủ (thời bấy giờ không có mì chính). Thả ruột Phi vào khoắng đều, đến khi sôi bùng lên phải bắc ra ngay; cho hành và lá chanh vào. Ta có một bát canh Phi với mùi vị đặc trưng.
Món Phi rán cũng làm sống, ướp gia vị rồi tẩm bột. Mỡ sôi già thả vào, lăn qua lăn lại, bột vừa chín phải gắp ra ngay. Phi rán ăn với các loại rau thơm chấm nước mắm gừng, tiêu, tỏi, ớt.
Ăn Phi dù rán hay nấu canh, phải ăn tái mới hưởng thụ được hương vị tự nhiên vốn có của con Phi. Giống như kiểu ta ăn sò huyết nướng vậy. Khi nhai, ta cảm được sự ròn sừn sựt, vị ngọt thấm dần từ đầu môi chót lưỡi đến cổ họng, đi đến đâu biết đến đó; dân nghiền chiêu thêm một ngụm rượu nút lá chuối, thật là thỏa sự đời. Phi nấu chín quá sẽ teo tóp và dai, mất cả hượng vị. Ai đã được ăn Phi Cầu Sài, dù chỉ một lần thôi, suốt đời không thể quên được hương vị của nó.
Dulichgo
Cháo Phi bổ dưỡng và lành, nhất là đối với người sau khi vừa ốm dậy. Người già và trẻ em ăn phi rất tốt, công hiệu đối với người mắc bệnh ra mồ hôi trộm.
Bắt Phi là một công việc khó nhọc và vất vả. Hầu hết những người phụ nữ độ tuổi trung niên ở Hải Lộc, Hậu Lộc – Thanh Hóa không ai là không từng gắn bó với nghề đào Phi từ thuở nhỏ. Có người từng nói, săn Phi là nghề khó nhất, vất vả nhất trong các nghề bắt hải sản ven biển. Bởi Phi sống sâu dưới cát cả nửa mét, hai chiếc tua dài như hai sợi râu thò lên mặt đất ăn sinh vật phù du. Tua cũng chính là hai chiếc “ăng ten” cực kỳ nhạy, có bất cứ động tĩnh gì nó sẽ chui sâu dưới cát.
Đào Phi phải dựa vào con nước, nước ròng kiệt (nước cạn), trời yên biển lặng thì nó mới chịu đưa vòi lên kiếm ăn. Người đi đào tìm chỗ ụ cát bằng nắm tay, màu hơi xanh, có những lỗ nhỏ bằng chân hương là ra sức đào thật nhanh để móc Phi lên. Những ngày biển động hoặc trở trời thì không thể xác định Phi đang ở chỗ nào dưới bãi cát rộng mênh mông.
Những người đi đào Phi lúc nào cũng lấm lem từ đầu tóc đến gót chân, mặt luôn dính bùn cát vì phải áp sát xuống bãi bồi. Hai đầu gối họ chai lại, kết bửng sần sùi vì phải quỳ nhiều. Quần áo luôn bạc thếch vị mặn của nước biển và mùi tanh của bùn. Một vài người còn xén bớt một bên ống tay áo cho khỏi vướng.
Dulichgo
Những con Phi nằm sâu dưới cát tưởng an phận nhưng lúc nào cũng thè chiếc lưỡi màu trắng ra. Người nào móc không khéo, để ngón tay chạm vào chiếc lưỡi sắc như dao cạo thì chỉ có đứt tay. Thế nhưng dù ngón tay có bị cứa nát vì lưỡi Phi, họ cũng không bao giờ dùng găng tay vì phải để bàn tay trần còn cảm nhận được vị trí nằm của nó.
Đào được hố rồi, chạm vào được Phi rồi nhưng đôi khi mắc cát, người đào không kéo chúng lên được, đành phải rút tay lên rồi lại nhanh chóng thò xuống móc một lần nữa. Nếu không nhanh, loài hải sản tinh ranh này sẽ lẩn ngay xuống bùn. Bởi vậy những người đi đào Phi thường kiêng không nói chuyện, cũng không cho người ngoài nhìn ngó vào chiếc làn đựng Phi của họ. Bởi họ quan niệm khi nghe tiếng người, Phi sẽ nhanh chóng lặn sâu, không thể tìm thấy.
Nhưng xót xa thay, cái nghề đào Phi giờ không còn nữa. Nhớ lại ngày còn chưa xây đập ngăn sông, cả khúc sông Trà nước mặn chảy qua cầu Sài có rất nhiều Phi. Những phụ nữ làng Sài chờ nước rút, bãi bồi lộ ra là cầm chiếc xăm sắt đào bới cả buổi, mang về những con Phi to hơn hai ngón tay. Giờ đắp đập tràn rồi, khúc sông Trà không còn nước mặn mà hoàn toàn nước ngọt.
Loài "Phi tiến vua" nức tiếng một thời giờ đã hoàn toàn biến mất. Thi thoảng nó xuất hiện trong câu ca của người già khi nhắc về những người con gái xinh đẹp và nức tiếng nấu ăn ngon: “Em là con gái Phượng Đình/ Ngày ngày dạo khắp tỉnh thành ai Phi”…
Theo Cinet.vn
Du lịch, GO!
Giữa trưa hè như đổ lửa mà nghe tiếng rao ấy thì cảm thấy dịu hẳn lại. Tiếng rao của các bà các chị bán rong Phi ngân dài qua các ngả đường của thành phố Thanh Hoá, văng vẳng từ những ngày xa xưa cho tới tận hôm nay…
Con Phi, là một loại hải sản vừa sống ở nước mặn, vừa sống ở nước lợ. Phi có ở nhiều nơi vùng ven biển Thanh Hóa như Hải Lộc (Hậu Lộc), Lạch Ghép (Quảng Xương), Lạch Hới (Sầm Sơn). Những vùng này là nước mặn, nên Phi thường nhỏ con, chỉ dài khoảng 10 cm. Khi ăn, mùi vị chẳng khác gì con Trai biển.
Gọi là Phi Cầu Sài là vì Phi ấy phải ở tại Cầu Sài mới đậm đà. Nó chỉ ngon ở ngay chính vùng đất ấy. Cũng như nhãn lồng Hưng Yên đem trồng nơi khác, đâu còn ngon nữa.Dulichgo
Phi Cầu Sài trông giống con trai biển, nhưng vỏ mỏng hơn. Con lớn nhất dài cả gang tay. Ruột Phi dầy trắng ngần, có hai tua dài. Đây là món đặc sản quý hiếm, vì ngoài vùng Cầu Sài ra, không nơi nào trong cả nước, có loài Phi như thế.
Cách ăn Phi hết sức đơn giản mà lại ngon tuyệt vời. Có thể chế biến Phi Cầu Sài thành các món xào, rán, nấu canh hay cháo. Nhưng thông thường là nấu canh và rán.
Ngâm Phi trong nước muối nhạt, để Phi nhả hết cát. Phi làm sống mới giữ được hương vị đặc trưng. Dùng mũi dao nhọn tách con Phi ra khỏi vỏ, hứng lấy nước từ ruột Phi chảy ra, để một lát cho cát lắng xuống, rồi chắt lấy nước trong cho vào nồi; thêm một lượng nước vừa đủ để nấu canh. Chuẩn bị sẵn hành tươi thái khúc, mươi cái lá chanh bánh tẻ rửa sạch thái chỉ. Đun nước sôi lên, nêm một lượng muối vừa đủ (thời bấy giờ không có mì chính). Thả ruột Phi vào khoắng đều, đến khi sôi bùng lên phải bắc ra ngay; cho hành và lá chanh vào. Ta có một bát canh Phi với mùi vị đặc trưng.
Món Phi rán cũng làm sống, ướp gia vị rồi tẩm bột. Mỡ sôi già thả vào, lăn qua lăn lại, bột vừa chín phải gắp ra ngay. Phi rán ăn với các loại rau thơm chấm nước mắm gừng, tiêu, tỏi, ớt.
Ăn Phi dù rán hay nấu canh, phải ăn tái mới hưởng thụ được hương vị tự nhiên vốn có của con Phi. Giống như kiểu ta ăn sò huyết nướng vậy. Khi nhai, ta cảm được sự ròn sừn sựt, vị ngọt thấm dần từ đầu môi chót lưỡi đến cổ họng, đi đến đâu biết đến đó; dân nghiền chiêu thêm một ngụm rượu nút lá chuối, thật là thỏa sự đời. Phi nấu chín quá sẽ teo tóp và dai, mất cả hượng vị. Ai đã được ăn Phi Cầu Sài, dù chỉ một lần thôi, suốt đời không thể quên được hương vị của nó.
Dulichgo
Cháo Phi bổ dưỡng và lành, nhất là đối với người sau khi vừa ốm dậy. Người già và trẻ em ăn phi rất tốt, công hiệu đối với người mắc bệnh ra mồ hôi trộm.
Bắt Phi là một công việc khó nhọc và vất vả. Hầu hết những người phụ nữ độ tuổi trung niên ở Hải Lộc, Hậu Lộc – Thanh Hóa không ai là không từng gắn bó với nghề đào Phi từ thuở nhỏ. Có người từng nói, săn Phi là nghề khó nhất, vất vả nhất trong các nghề bắt hải sản ven biển. Bởi Phi sống sâu dưới cát cả nửa mét, hai chiếc tua dài như hai sợi râu thò lên mặt đất ăn sinh vật phù du. Tua cũng chính là hai chiếc “ăng ten” cực kỳ nhạy, có bất cứ động tĩnh gì nó sẽ chui sâu dưới cát.
Đào Phi phải dựa vào con nước, nước ròng kiệt (nước cạn), trời yên biển lặng thì nó mới chịu đưa vòi lên kiếm ăn. Người đi đào tìm chỗ ụ cát bằng nắm tay, màu hơi xanh, có những lỗ nhỏ bằng chân hương là ra sức đào thật nhanh để móc Phi lên. Những ngày biển động hoặc trở trời thì không thể xác định Phi đang ở chỗ nào dưới bãi cát rộng mênh mông.
Những người đi đào Phi lúc nào cũng lấm lem từ đầu tóc đến gót chân, mặt luôn dính bùn cát vì phải áp sát xuống bãi bồi. Hai đầu gối họ chai lại, kết bửng sần sùi vì phải quỳ nhiều. Quần áo luôn bạc thếch vị mặn của nước biển và mùi tanh của bùn. Một vài người còn xén bớt một bên ống tay áo cho khỏi vướng.
Dulichgo
Những con Phi nằm sâu dưới cát tưởng an phận nhưng lúc nào cũng thè chiếc lưỡi màu trắng ra. Người nào móc không khéo, để ngón tay chạm vào chiếc lưỡi sắc như dao cạo thì chỉ có đứt tay. Thế nhưng dù ngón tay có bị cứa nát vì lưỡi Phi, họ cũng không bao giờ dùng găng tay vì phải để bàn tay trần còn cảm nhận được vị trí nằm của nó.
Đào được hố rồi, chạm vào được Phi rồi nhưng đôi khi mắc cát, người đào không kéo chúng lên được, đành phải rút tay lên rồi lại nhanh chóng thò xuống móc một lần nữa. Nếu không nhanh, loài hải sản tinh ranh này sẽ lẩn ngay xuống bùn. Bởi vậy những người đi đào Phi thường kiêng không nói chuyện, cũng không cho người ngoài nhìn ngó vào chiếc làn đựng Phi của họ. Bởi họ quan niệm khi nghe tiếng người, Phi sẽ nhanh chóng lặn sâu, không thể tìm thấy.
Nhưng xót xa thay, cái nghề đào Phi giờ không còn nữa. Nhớ lại ngày còn chưa xây đập ngăn sông, cả khúc sông Trà nước mặn chảy qua cầu Sài có rất nhiều Phi. Những phụ nữ làng Sài chờ nước rút, bãi bồi lộ ra là cầm chiếc xăm sắt đào bới cả buổi, mang về những con Phi to hơn hai ngón tay. Giờ đắp đập tràn rồi, khúc sông Trà không còn nước mặn mà hoàn toàn nước ngọt.
Loài "Phi tiến vua" nức tiếng một thời giờ đã hoàn toàn biến mất. Thi thoảng nó xuất hiện trong câu ca của người già khi nhắc về những người con gái xinh đẹp và nức tiếng nấu ăn ngon: “Em là con gái Phượng Đình/ Ngày ngày dạo khắp tỉnh thành ai Phi”…
Theo Cinet.vn
Du lịch, GO!
Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015
Độc đáo món giả hôn trong mâm cỗ
(DVO) - Ai đã đến vùng quê Hội Sơn (ở huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An), được một lần thết đãi món giả hôn hẳn sẽ không quên hương vị thơm ngon khó tả của món ăn này.
Ở vùng quê xã Hội Sơn này, từ lâu người dân nơi đây coi món giả hôn là món ăn thân quen, gắn liền với cuộc sống chân chất mộc mạc của người dân và luôn có mặt trong bữa cơm, bữa cỗ của nhiều gia đình, đặc biệt là những dịp lễ, dịp tết.
Không biết rõ món ăn này có trên mâm cơm, mâm cỗ nơi đây từ bao giờ, ai đã sáng tạo ra nó, người dân trong xã chỉ biết rằng món ăn này đã tồn tại từ rất lâu rồi và mãi cho tới ngày hôm nay, ai cũng thích. Với riêng tôi, món ăn này từ lâu cũng đã được nghe một người bạn quê ở Hội Sơn nói đến. Nhưng phải đến cuối tháng Tám vừa qua, trong một lần ghé thăm nhà người bạn, tôi mới may mắn được thưởng thức món ăn này.
Quả thật đây là một món ăn độc đáo “có một không hai”. Món giả hôn vừa ngon, lại có hương vị đặc trưng không giống với bất kỳ món ăn nào mà tôi từng được thưởng thức. Hỏi chuyện ông Nguyễn Văn Hợi, người xóm 5 xã Hội Sơn, ông đã chỉ cho tôi biết bí truyền chế biến món ăn này. Mới đầu nghe thôi thì thấy ly kỳ hấp dẫn, nhưng chế biến lại khá đơn giản, hầu như ai cũng có thể làm được. Nhưng theo ông Hợi, để có được món giả hôn ngon như ý, bắt mắt và hợp với khẩu vị thì với người ngoài xã không phải ai cũng biết. Làm món này, ngoài việc phải biết cách chọn nguyên liệu, người đầu bếp cần có kinh nghiệm trong củi lửa, chế biến nguyên liệu.
Dulichgo
Nguyên liệu để làm món ăn này không quá khó tìm kiếm, bao gồm: cộc chuối (củ cây chuối), thịt heo, hành củ, mắm tôm, mật mía ( mật nước), cây lộc sắn (một loại cây rừng cho mùi thơm), rau mùi tàu, lá lốt, nghệ củ, tiêu bột, muối, bột ngot, nước mắm…
Củ chuối để nấu món giả hôn phải lấy từ cây chuối không quá già hoặc quá non, bởi quá già món ăn sẽ có vị chát, quá non nấu sẽ nhanh nát, như vậy món ăn sẽ không ngon. Củ chuối sau khi đào lên thì rửa sạch, thái chỉ, sau đó ngâm trong nước muối khoảng 30 phút cho ra hết nhựa, rửa sạch vớt ra rổ cho ráo nước. Các loại gia vị băm nhỏ, trộn đều (trừ hành củ lột vỏ để nguyên), thịt heo thái thành miếng nhỏ vừa ăn. Sau đó cho tất cả hỗn hợp gia vị, củ chuối thái chỉ vào trộn đều, ướp khoảng 20 phút. Sau khi đã ướp xong, phi thơm hành mỡ, cho tất cả vào nồi xào trong khoảng 10 phút (chú ý xào vừa chín tới) thì đổ nước vào nấu thêm khoảng 30 phút nữa là có được món giả hôn như ý muốn.
Món giả hôn được xem là “ngon như ý” phải có màu nâu đậm, giữ được hương vị đặc trưng của các loại gia vị, miếng gắp không quá nát… Món giả hôn chỉ đơn giản vậy thôi nhưng là món ăn cổ truyền khá phổ biến của người dân nơi đây trong các dịp lễ tết, hay tiếp đãi bạn bè, được cánh mày râu ở đây rất ưa thích.
Ngày nay mặc dù kinh tế phát triển, người dân nơi đây đã có điều kiện để thưởng thức nhiều món ăn ngon, nhưng không vì thế mà thiếu vắng món ăn này trong mâm cơm, mâm cỗ của mỗi gia đình nơi đây.
Theo Long Sơn (Báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Ở vùng quê xã Hội Sơn này, từ lâu người dân nơi đây coi món giả hôn là món ăn thân quen, gắn liền với cuộc sống chân chất mộc mạc của người dân và luôn có mặt trong bữa cơm, bữa cỗ của nhiều gia đình, đặc biệt là những dịp lễ, dịp tết.
Không biết rõ món ăn này có trên mâm cơm, mâm cỗ nơi đây từ bao giờ, ai đã sáng tạo ra nó, người dân trong xã chỉ biết rằng món ăn này đã tồn tại từ rất lâu rồi và mãi cho tới ngày hôm nay, ai cũng thích. Với riêng tôi, món ăn này từ lâu cũng đã được nghe một người bạn quê ở Hội Sơn nói đến. Nhưng phải đến cuối tháng Tám vừa qua, trong một lần ghé thăm nhà người bạn, tôi mới may mắn được thưởng thức món ăn này.
Quả thật đây là một món ăn độc đáo “có một không hai”. Món giả hôn vừa ngon, lại có hương vị đặc trưng không giống với bất kỳ món ăn nào mà tôi từng được thưởng thức. Hỏi chuyện ông Nguyễn Văn Hợi, người xóm 5 xã Hội Sơn, ông đã chỉ cho tôi biết bí truyền chế biến món ăn này. Mới đầu nghe thôi thì thấy ly kỳ hấp dẫn, nhưng chế biến lại khá đơn giản, hầu như ai cũng có thể làm được. Nhưng theo ông Hợi, để có được món giả hôn ngon như ý, bắt mắt và hợp với khẩu vị thì với người ngoài xã không phải ai cũng biết. Làm món này, ngoài việc phải biết cách chọn nguyên liệu, người đầu bếp cần có kinh nghiệm trong củi lửa, chế biến nguyên liệu.
Dulichgo
Nguyên liệu để làm món ăn này không quá khó tìm kiếm, bao gồm: cộc chuối (củ cây chuối), thịt heo, hành củ, mắm tôm, mật mía ( mật nước), cây lộc sắn (một loại cây rừng cho mùi thơm), rau mùi tàu, lá lốt, nghệ củ, tiêu bột, muối, bột ngot, nước mắm…
Củ chuối để nấu món giả hôn phải lấy từ cây chuối không quá già hoặc quá non, bởi quá già món ăn sẽ có vị chát, quá non nấu sẽ nhanh nát, như vậy món ăn sẽ không ngon. Củ chuối sau khi đào lên thì rửa sạch, thái chỉ, sau đó ngâm trong nước muối khoảng 30 phút cho ra hết nhựa, rửa sạch vớt ra rổ cho ráo nước. Các loại gia vị băm nhỏ, trộn đều (trừ hành củ lột vỏ để nguyên), thịt heo thái thành miếng nhỏ vừa ăn. Sau đó cho tất cả hỗn hợp gia vị, củ chuối thái chỉ vào trộn đều, ướp khoảng 20 phút. Sau khi đã ướp xong, phi thơm hành mỡ, cho tất cả vào nồi xào trong khoảng 10 phút (chú ý xào vừa chín tới) thì đổ nước vào nấu thêm khoảng 30 phút nữa là có được món giả hôn như ý muốn.
Món giả hôn được xem là “ngon như ý” phải có màu nâu đậm, giữ được hương vị đặc trưng của các loại gia vị, miếng gắp không quá nát… Món giả hôn chỉ đơn giản vậy thôi nhưng là món ăn cổ truyền khá phổ biến của người dân nơi đây trong các dịp lễ tết, hay tiếp đãi bạn bè, được cánh mày râu ở đây rất ưa thích.
Ngày nay mặc dù kinh tế phát triển, người dân nơi đây đã có điều kiện để thưởng thức nhiều món ăn ngon, nhưng không vì thế mà thiếu vắng món ăn này trong mâm cơm, mâm cỗ của mỗi gia đình nơi đây.
Theo Long Sơn (Báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

































