Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Đình Phước Thuận - Đà Nẵng.

Đình Phước Thuận tọa lạc tại thôn Phước Thuận, xã Hoà Nhơn, huyện Hoà Vang - Đà Nẵng.
Làng Phước Thuận nằm giữa thung lũng được bao bọc bởi những ngọn núi thấp, trải dài và mở lòng ra phía nam, đông giáp các làng Đông Phước,Nghi là ngôi đình cổ, ban đầu toạ lạc tại Cồn Am (cạnh Cồn Nồ), xứ Bàu Dài, tục gọi là Minh Đình (nay là xóm trên).Làng Phước Thuận được ra đời từ sự chia tách của làng Phước Sơn xưa.

Thời gian đầu mới dựng, đình làm bằng tranh tre, gỗ tạp để di dân trú ngụ có nơi sinh hoạt chung sườn đình làm bằng gỗ tại địa phương. Đến đời Gia Long, đình làng được xây bằng gạch ngói. Gạch ngói được lấy đất từ ruộng Hồ Lư tại xóm trên để nung, nay còn dấu tích. Viên gạch lớn, hình chữ nhật giống gạch người Chăm.

Đây là thời kỳ Phước Sơn đại xã chưa bị chia cắt, do đó nhân dân trong làng đông đúc, các ngày tế lễ kỳ an, kỳ phước người dân được ăn xôi, cháo, thịt cũng là đặc sản tại Phước Sơn. Đến dự tế lễ xuân thu nhị kỳ tại đình, người dân trong làng thường mang theo chén đũa cho tiện, nhằm kết thúc lễ hội là có thể dọn dẹp gọn gàng trong ngày mà không phải thức đến thâu đêm.
Dulichgo
Đình Phước Thuận là một ngôi đình lớn, trong dân gian còn lưu truyền “Đi vô xem đình La Qua, đi ra trông đình Phước Thuận”. Đến nay làng Phước Thuận còn lưu giữ được bộ đinh, bộ điền thời Thái Đức – Gia Long (có ấn chỉ niên hiệu Thái Đức), và bảng Khoán ước thời Gia Long nay còn lưu giữ được, cho thấy tại Phước Thuận, một làng quê trung du của huyện Hoà vang vẫn còn những văn bản Hán – Nôm, chứng tỏ thời kỳ Phước Sơn đại xã, nơi đây đã từng thiết lập được một nền nếp sinh hoạt văn hoá trong nhân dân mà nay còn được lưu truyền trong dân gian.

Đình được xây dựng theo trục Bắc – Nam, quay mặt vào Nam nhìnn ra cánh đồng , hai bên tả hữu có các ngọn núi Phước Tường ( Hoà Phát ), Năm Hố ôm lấy tạo thế long chầu hổ phục, minh đường thuỷ tụ. Kiến trúc chính của đình Phước Thuận theo dạng chữ “Đinh”, hay còn gọi là kiểu “chuôi vồ”,tức bao gồm toà chính diện phía trước và hậu tẩm nối liền phía sau gian giữa của nhà chính điện. Hậu tẩm là là một không gian nhỏ, được xây bằng vật liệu mới là gạch vữa xi măng. Chính giữa có bệ thờ Thành Hoàng bổn xứ Phan Công Thuyên . Trên mặt tường sau có vẽ bức thảm.

Kiến trúc ở đình Phước Thuận là hệ thống trụ trốn đội xà cò. Trụ trốn ở đây là đoạn gỗ tròn được trau chuốt gồm phần trên ăn mộng và đỡ lấy giao nguyên, dưới có chân đế hình con tôm. Chân tôm được chạm nổi hoa văn mây nước, ăn mộng trực tiếp vào chính giữa lưng trính. Như vậy  trụ trốn là một bộ phận vừa có tác dụng chịu lực( đỡ lấy giao nguyên) vừa có tác dụng trang trí làm tăng them giá trị nghệ thuật của đình làng. Xà cò là một thanh gỗ dài nằm sát, song song phía dưới đòn đông và ăn mộng vào phần cổ của trụ trốn.

Trong đại điện có ba gian thờ chính: Bàn thờ ở hai gian tả hữu thờ tiền hiền hậu hiền, chính giữa trung tâm của đại đình được thiết kế một bàn thờ bằng vật liệu gạch vữa xi măng. Đây là nơi thờ các vị thần được vua ban sắc phong.
Dulichgo
Mái đình lợp ngói móc bằng xi măng trên hệ thống rui, me, đòn tay bằng gỗ. Nóc mái gắn trang trí các phù điêu theo môtip “ lưỡng long trièu nguyệt”. Ở bốn góc mái gắn trang trí các hinhhf rồng cách điệu. Tất cả được khảm sành sứ và thuỷ tinh bằng một kỹ thuật điêu luyện và sự thăng hoa của nghệ thuật trang trí

Hằng năm, dân làng Phước thuận đèu tổ chức cúng tế thần và tổ chức hội hè, diễn xướng dân gian tại đình làng diễn ra trong hai ngày 19 và 20 tháng 3 âm lịch. Đây là dịp con dân của làng bày tỏ lòng tri ân đến các bậc tiền nhân, đồng thời cũng là dịp tốt để dân làng tụ hội thi thố tài năng, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của địa phương.

Hiện nay, đình còn lưu giữ được các hiện vật sau:

+ Bộ lỗ: bao gồm hai cái siêu, hai cái rìu, hai tay văn và hai tay võ. Đây là các hiện vật được sử dụng trong các ký đại lễ, rước sắc phong

+ Sắc phong: đình còn lưu giữ được 14 sắc phong của các vua triều Nguyễn ban. Cụ thể:

- 01 sắc năm Minh Mạng thứ 7 (1826).
- 02 sắc năm Thiệu Trị thứ 3 (1843).
- 04 sắc năm Tự Đức thứ 5 (1852).
- 01 sắc năm Tự Đức thứ 30 (1877).
- 03 sắc năm Đồng Khánh thứ 2 (1886).
- 01 sắc năm Duy Tân thứ 3 (1909).
- 02 sắc năm Khải Định thứ 9 (1924).

Đình Phước Thuận được UBND thành phố công nhận là di tích Lịch sử - Văn hoá cấp thành phố tại quyết định số 5874/QĐ-UBND ngày 30/8/2006

Theo Cổng TTĐT thành phố Đà Nẵng
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

Đàn Nam Giao – linh thiêng cùng non sông

Cũng như bao triều đại Phong kiến trước, triều Nguyễn cũng lấy Nho giáo làm khuôn vàng thước ngọc, coi Trời là cha, đất là mẹ nên ngoài cha mẹ ruột thì đây là “cha mẹ” tinh thần. Vì thế mà đàn tế được xây dựng để tế Trời và Đất.

< Đàn Nam Giao tại Huế.

Lúc đầu đàn được vua Gia Long cho xây tạm ở làng An Ninh thượng, sau đó đến năm 1806 thì dời về vị trí hiện nay ở làng Dương Xuân thuộc phía nam kinh thành. Đàn có diện tích 390m x 265m, được bao phủ bởi rừng thông xanh mướt được chăm sóc cẩn thận.

Đàn có bốn cửa ứng với bốn hướng Đông – Tây – Nam – Bắc, ở mỗi cửa có một tấm bình phong lớn, xung quanh đàn có tường cao 1,5m bao bọc.

Trung tâm đàn là hệ thống đàn tế với ba tầng: tầng dưới cùng có hình vuông mỗi cạnh 165m – tượng trưng cho con người, tầng kế cũng hình vuông – tượng trưng cho đất, tầng trên cùng có hình tròn đường kính 45m – tượng trưng cho trời.

Điểm đặc biệt ở tầng trên cùng của đàn là hệ thống khuếch đại âm thanh, trung tâm đàn tế có lát những viên đá thanh với kỹ thuật đặc biệt, bất kỳ ai khi đứng ngay trung tâm nói thì trong phạm vi vài trăm mét vẫn nghe rõ mà không cần dùng bất kỳ vật gì hỗ trợ.
Dulichgo
Nguyên thủy thì mỗi tầng được sơn một màu khác nhau: tầng trên cùng sơn màu xanh – màu của trời, tầng giữa sơn màu vàng – màu của đất, tầng dưới cùng sơn màu đỏ - màu của con người. Vào mỗi kỳ tế lễ người ta thường dựng những ngôi nhà tương ứng với các màu trên để làm nơi dâng đồ cúng.

Ở một khu đất phía nam đàn có một khu vực đặc biệt là Trai cung, nơi vua ngự giá đến và ở lại đây trong ba ngày trước khi tế lễ, ngoài ra xung quanh đàn còn có các công trình như: quan cư và bình xá – nơi ở của quan binh trong lúc tế lễ, thần trù – nhà bếp, thần khố - nhà kho, ế sở - nơi phục vụ cho việc tế tam sanh. Hiện nay thì các công trình này đã thành phế tích chỉ còn Trai cung tương đối nguyên vẹn.
Dulichgo
Lễ tế giao được tổ chức rất quy mô và hoành tráng, mỗi năm một lần Vua rời hoàng cung đến đây để tế cao trời đất (đến triều Thành Thái do lễ tế quá tốn sức tốn của nên định lệ ba năm tổ chức một lần!). Lễ tế Nam Giao sẽ được chúng tôi nhắc lại trong những kỳ tới.

Trải qua dâu bể của thời gian, chiến tranh, sự vô ý thức của con người, đàn trở nên hoang phế và bị trưng dụng với nhiều mục đích khác nhau. Mãi đến năm 1994 đàn mới bắt đầu được trùng tu, sau nhiều năm trùng tu, đàn đã lấy lại dáng dấp xưa.

Đến với đàn Nam Giao ngày nay ta sẽ hòa mình vào thiên nhiên trong lành, chứng kiến một giao đàn từng có giá trị về mặt tâm linh rất lớn trong lòng người dân Huế xưa.

Theo Khám Phá Huế
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

Đồi Hà Khê: Linh địa ở cố đô.

Đồi nằm cách thành phố Huế 6km về phía Tây, sát bên bờ tả ngạn sông Hương. Đồi Hà Khê nằm về phía Nam xã Giang Đạm, huyện Kim Trà vào thời Lê Mạc, tức xã An Ninh, huyện Hương Trà vào thời sau, kể từ các chúa Nguyễn. Nay thuộc xã Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

< Không ảnh đồi Hà Khê.

Đồi không cao lắm, hơn mực nước biển vài chục mét, nhưng đồi có cách cấu tạo khá kỳ thú. Ngọn đồi và dòng nước sông Hương đã tạo cho vùng Thiên Mụ một phong cảnh đẹp thật huyền ảo. Con sông Hương từ thượng nguồn đổ về với điệu nước bình thường, êm ả, trong xanh, ngang làng Long Hồ thì chảy quanh trở lại và trở nên rộng ra để chảy về trước mặt Văn Thánh...

Đến tận chân đồi, sông uốn tròn qua mạng Nguyệt Biều, tạo thành một quãng rộng mênh mông như cái vịnh. Đứng từ gốc bi đình khắc thơ của Thiệu Trị mà nhìn lên, bất kỳ thời nào, bất kể giờ nào, quãng sông này đều có cái đẹp riêng từng thời khắc của nơi này.
Dulichgo
Đồi Hà Khê là ngọn đồi thiêng liêng từng chiếm vị trí đặc biệt tôn nghiêm trong tâm thức và ký ức của các vua chúa nhà Nguyễn suốt gần 400 năm tồn tại trong lịch sử vương quyền Việt Nam. Dưới lăng kính phong thủy, địa thế của đồi là nơi “thủy tụ”, nơi “rồng cuộn mình ngoảnh đầu nhìn lại” và là nơi có thế “hổ ngồi cất rống” (long bàn hổ cứ).

Sau khi dẫn quân vượt biển vào Quảng Trị để gây dựng giang sơn riêng về phía Nam, Chúa Nguyễn Hoàng đã nhình thấy giữa đồng bằng xã Hà Khê nổi lên một gò cao có hình tựa như đầu một con rồng đang ngoảnh lại, phía trước đồi có con sông lớn uốn khúc bọc quanh, phía sau có hồ nước lớn, tạo thành phong cảnh tốt tươi.

< Từ trên đồi nhìn xuống sông Hương.

Nhân đó, chúa thượng hỏi chuyện người địa phương, họ đều nói rằng gò này rất thiêng, tục truyền một đêm kia bỗng có một bà già mặc áo đỏ quần xanh hiện ra trên đỉnh gò nói rằng: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến xây chùa trên gò này để kết tụ khí thiêng và giữ bền long mạch”.

Để giữ bền long mạch chúa Nguyễn Hoàng mới xây lên ngôi chùa (trên nền của một ngôi chùa cũ đã có trước đó) ở đây và đặt tên là chùa Thiên Mụ. Ngồi chùa này là nơi kết tinh khí thiêng của đất trời, anh linh của giang sơn, nơi có dáng núi quay đầu về chốn kinh thành, cúi nhìn đăm đắm sông Hương, mở mang đạo pháp Liên Hoa, đúc kết tinh hoa vào lá bối.
Dulichgo
Đến cuối thế kỷ 20, chùa Thiên Mụ trên đồi Hà Khê là một trong các di tích quan trọng đã góp phần cùng thành quách, cung điện, lăng tẩm tạo nên diện mạo và giá trị của Quần thể di tích Huế – một quần thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1993.

Đó không chỉ là danh lam thắng cảnh tuyệt vời của đất nước, mà theo nhiều nhà nghiên cứu đã ảnh hưởng sâu đậm “đến cả cuộc tồn vong của một nền văn hóa” và “đã gắn liền đời sống tâm linh của dòng họ Nguyễn từ vị chúa đầu tiên cho đến vị vua cuối cùng” (Phan Thuận An). Hoặc như nhận định của Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm trong công trình biên soạn về Phật giáo xứ Huế: “Sở dĩ chùa Thiên Mụ càng ngày càng có ảnh hưởng lớn là vì ngọn đồi Hà Khê – nơi có sơn triều thủy tụ, có long mạch phát đế vương cho dòng họ Chúa Nguyễn và triều Nguyễn kể từ 1558 (năm Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận Hóa) cho đến 1945 (năm Vua Bảo Đại thoái vị)” – theo đó tính ra, họ Nguyễn đã có ngót 387 năm đăng quang, thăng trầm và tồn tại trong lịch sử vương quyền Việt Nam.

Du lịch, GO! tổng hợp

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

Chùa Cổ Lễ (Trực Ninh - Nam Định)

Chùa Cổ Lễ (hay Quang Thần tự) là một quần thể kiến trúc đạo Phật và tín ngưỡng Việt Nam mang các yếu tố kiến trúc gô-tích ở thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, ngay sát quốc lộ 21A. Trong chùa có quả chuông Đại Hồng Chung lớn nhất Việt Nam được Hòa thượng Thích Thế Long cho đúc vào năm 1936.

Theo bảng giới thiệu trong chùa, thì chùa Cổ Lễ nguyên được xây dựng từ thời Lý Thần Tông, do quốc sư Nguyễn Minh Không sáng lập để thờ phật. Chùa đầu tiên bằng gỗ theo lối kiến trúc cổ. Tuy nhiên chùa ban đầu này đã bị đổ nát.

Năm 1902, sư Phạm Quang Tuyên về trụ trì, cho thiết kế và xây dựng lại chùa theo kiến trúc "Nhất Thốc Lâu Đài" với những yếu tố kiến trúc gô-tích giống như các nhà thờ Công giáo có khá nhiều ở khu vực lân cận. Sau đó, chùa đã được trùng tu nhiều lần. Vật liệu xây dựng là gạch, vôi vữa, mật mía, giấy bản tạo nên độ cố kết vững bền của toàn bộ kiến trúc ngôi chùa.
Dulichgo
Chùa Cổ Lễ là sự hòa nhập các yếu tố kiến trúc cổ truyền Việt Nam với các yếu tố kiến trúc gô-tích (Gothic) của châu Âu. Đây là một ngôi chùa thờ Phật nhưng lại mang dáng dấp một thánh đường Thiên Chúa giáo.

Trước chùa là ngôi tháp Cửu Phẩm Liên Hoa cao cao 32 m, có 8 mặt, dựng năm 1927. Đế tháp được đặt trên lưng một con rùa lớn, đầu quay vào phía chùa. Con rùa được nằm giữa một hồ nước hình vuông, bốn góc là bốn hòn núi giả khá lớn, có đắp bốn con voi to bằng voi thật.

Trong lòng tháp có cầu thang gồm 98 bậc xoắn ốc đến đỉnh. Tương truyền rằng tín đồ phật tử, khách hành hương lên đến bậc thứ 98 này, sờ tay vào bức tượng trên đỉnh tháp thì cuộc sống sẽ luôn gặp may mắn.

Tiếp theo ngôi tháp là một chiếc cầu cong ba nhịp bắc qua hồ Chu Tích (còn gọi là hồ Núi), gọi là cầu Cuốn. Mặt cầu lát gạch. Cầu Cuốn dẫn tới chùa Trình, còn gọi là Phật giáo Hội quán. Chùa Trình được xây vào năm 1936 và trùng tu vào năm 2001. Trong chùa có tượng Phật Quan Âm nghìn tay. Trước sân chùa Trình có 2 lư đồng khổng lồ.

Bên trái chùa Trình là đền Linh Quang Từ, được xây vào năm 1937, thờ Trần Hưng Đạo và hai tiến sĩ họ Đào người làng Cổ Lễ là Bảng nhãn Đào Sư Mỗ và Tiến sĩ đệ tam giáp Đào Toàn Mỗ. Bên phải chùa Trình là Khánh Quang phủ, được xây vào năm 1937, là nơi thờ Tam Tòa Thánh Mẫu.
Dulichgo
Sau lưng chùa Trình là một cái hồ lớn. Giữa hồ có một quả chuông nặng 9000 kg gọi là chuông Đại Hồng Chung. Quả chuông cao 4,2 m, đường kính 2,2 m, thành dày 8 cm. Miệng chuông có họa tiết hình cánh sen, thân có họa tiết hoa lá, sông nước và một số văn tự bằng chữ Nho. Quả chuông này chưa được đánh một lần nào nhưng dân gian truyền miệng khi đánh lên thì cả tỉnh và một vài vùng lân cận sẽ nghe được tiếng ngân của chiếc chuông Đại hồng chung này. Đây là một trong những quả chuông lớn nhất ở Việt Nam. Nhân dân quanh vùng vì yêu mến chùa mà đúc tặng. Trong quá trình đúc chuông, nhiều người đã tháo cả nhẫn, vòng, vàng hòa tan trong đó. Khi quả chuông vừa đúc xong thì kháng chiến bùng nổ, nhân dân trong vùng đề phòng sự phá hoại của giặc nên đã đem ngâm quả chuông xuống hồ. Đến năm 1954, chuông mới được trục vớt và được đặt trên bệ đá cho du khách tham quan từ đó đến nay.

Có hai chiếc cầu giả như động núi, gọi là cầu Núi, bắc qua hồ dẫn tới kiến trúc chính của chùa Cổ Lễ, đó là chùa Thần Quang. Chính điện được thiết kế theo kiến trúc hài hòa giữa phong cách truyền thống và hiện đại. Thần Quang Tự được xây dựng từ năm 1914 trên nền chùa cổ từ thế kỷ 12. Năm 1995, chùa được trùng tu lớn. Trong chùa có tượng Phật sơn son thếp vàng bằng gỗ bạch đàn cao 4 m đặt ở trên tầng cao phải đi theo những cầu thang nhiều bậc ở hai bên mới lên đến chỗ đặt các tượng Phật. Sau lưng tượng Phật là bàn thờ với tượng Nguyễn Minh Không.

Từ điện Phật, có các hành lang quanh ra phía sau nối với nhà khách và nhà tổ. Vách hành lang gắn đầy những tấm bia hậu. Ở nhà tổ có tượng Hòa thượng Phạm Quang Tuyên.
Dulichgo
Sau nhà thờ tổ là một gác chuông lớn có kiến trúc truyền thống gồm 3 tầng 4 mặt, gọi là Kim Chung Bảo Các. Gác chuông này cao 13m40, được xây dựng vào năm 1997. Tầng 2 của gác chuông này có treo một quả chuông đồng to, cao 4m20, rộng 2m03, nặng 9.000 kg. Chuông được đúc vào năm 2003. Tầng 3 có treo một quả chuông đồng nữa đúc từ thời Lê Cảnh Thịnh, nặng 300 kg. Sau gác chuông là khu lăng mộ tổ của chùa.

Trong chùa còn có một chiếc trống bằng đồng và những chiếc thuyền dùng để thi bơi chải. Bốn bề của chùa là vườn tược, hồ nước và sông ngòi. Nhờ kết hợp tinh hoa kiến trúc cổ truyền Việt Nam với các yếu tố của phong cách kiến trúc phương Tây, chùa Cổ Lễ đã trở thành một danh lam ở vùng đồng bằng sông Hồng.

Hội chùa Cổ Lễ từ 13 đến 16 tháng 9 Âm lịch hàng năm, có nhiều nghi thức văn hóa cổ truyền giàu tính nhân văn như lễ rước Phật, đấu vật, đánh cờ người..., đặc biệt là được xem cuộc thi bơi chải truyền thống trên dòng sông uốn lượn quanh chùa.

Theo Wikipedia, ảnh internet
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

Chùa Phật Tổ - Ngôi Chùa Cổ Kính Ở Cà Mau

Chùa Phật Tổ tọa lạc tại phường 4, Thành phố Cà Mau, được xây dựng vào năm 1840. Đây là một công trình kiến trúc tôn giáo truyền thống và là nơi truyền Phật pháp sớm nhất ở vùng đất Cà Mau. Nguyên cách gọi tên chùa Phật Tổ là do sự tôn kính từ lâu đời của người dân vùng Cà Mau với vị Hòa thượng lập dựng Chùa: Hòa thượng Thích Trí Tâm.

Vào khoảng năm 1840, vùng Cà Mau còn là vùng đất lau sậy, hoang sơ. Người dân địa phương kể rằng, thời đó có chàng trai Tô Quang Xuân đi lấy củi trong rừng, khi rìu bổ vào thân cây bồ đề cổ thụ thì thấy lộ ra một quyển kinh Phật đặt ở gốc cây. Từ đó chàng trai dựng am vừa tu vừa bốc thuốc chữa bệnh cho dân bên bờ kênh Quản Lộ. Tô Quang Xuân tụng kinh Kim Cương cảm hóa được thú dữ. Thiên hạ biết tiếng kéo đến xin thuốc và học đạo rất đông.

Về sau, nhờ người dân đóng góp tài vật, Tô Quang Xuân dựng được một ngôi chùa bằng lá đơn sơ. Thấy vậy, hương hào Đỗ Văn Viễn trong vùng ghen ghét đã vu cho ông là gian đạo sỹ. Ông bị quan trên bắt về Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) quản thúc.
Dulichgo
Nhưng đạo hạnh của Tô Quang Xuân đã làm các quan trên kính phục. Khi được giải về Huế, ông thọ giới xuất gia ở chùa Kim Chưởng. Các vị cao tăng đã trình lên vua nhà Nguyễn (năm Thiệu Trị thứ 2 - 1842) và vua đã xuống chiếu sắc phong cho ngôi chùa của ông có tên gọi là “Sắc tứ Quan âm Cổ Tự.” Sau khi thọ giới được 7 ngày, ông mất tại chùa Kim Chưởng. Ông được phong Hòa thượng, pháp danh là Thích Trí Tâm, được ban gấm vóc và đưa về tận quê ở Cà Mau. Từ đó, dân trong vùng tôn kính ông nên đã gọi ngôi chùa là chùa Phật Tổ.

Chùa Phật Tổ là một công trình kiến trúc tôn giáo có giá trị nghệ thuật cao. Đợt trùng tu chùa năm 1937 vẫn giữ nguyên nét kiến trúc xưa cho đến ngày nay. Ngoài kiến trúc chính của ngôi chùa, hiện nay còn có văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh, Trường trung cấp Phật học Cà Mau, cơ sở cắt may miễn phí và cơ sở khám, chữa bệnh miễn phí. Phía sau chùa là hoa viên cây xanh và khu lăng mộ.

Mái chùa hình quả ấn, lợp ngói máng, kiến trúc sắc nét, mô phỏng mái đình ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Mái được chia thành phần nóc chính và mái nghi môn. Phần nóc chính thể hiện giá trị nghệ thuật đặc sắc của ngôi Cổ tự với hình lưỡng long tranh châu cách điệu, bên dưới là phù điêu, hình ảnh mô tả cảnh thiên nhiên. Mặt chính trên nóc chùa đề 6 chữ: "Sắc tứ Quan âm cổ tự."

Những đường cong ở đầu đao mái chùa thể hiện cảnh cá hóa rồng làm bằng ximăng ốp sứ cách điệu, dáng vẻ độc đáo. Mái nghi môn ở tầng thấp hơn lợp ngói máng, có họa tiết sống động và đề 4 chữ: "Quan âm cổ tự". Bên trên cửa ra vào có hoa văn hình chữ Thọ trang trí mặt tiền chính điện. Hai mặt ngoài vách chính điện có những hình vẽ tôn thêm vẻ cổ kính.
Dulichgo
Từ ngoài nhìn vào, khuôn viên chùa khá rộng, không gian hài hòa. Tượng Quan Âm lớn hơn người thật đứng trên tòa sen, nhìn về Rạch Chùa. Tượng bằng ximăng sơn màu xanh, nét mặt hiền hòa, cân đối.

Cửa chùa mở theo hình bán nguyệt dẫn vào chính điện. Chính điện chùa có hai hàng cột xi măng, mỗi bên 3 cây, tạo không gian rộng. Ngôi Tam bảo thờ nhiều tượng Phật. Nét đặc sắc trong đường nét kiến trúc ở ngôi Tam bảo là dùng đồ sứ ốp vào các họa tiết làm bằng xi măng tạo thành một án thờ. Ngoài ra, chùa Phật Tổ còn lưu giữ nhiều tượng gỗ cổ và các hiện vật: khánh gỗ, độc bình, chuông đồng, câu đối, sắc phong...
Dulichgo
Án thờ tổ sư Hòa thượng Thích Trí Tâm được đặt trong một bệ bằng xi măng cao 1,47m, rộng 1,52m. Hai bên tượng có hai câu đối, tạm dịnh là: "Một chữ dọc ngang có khả năng làm tĩnh thiên hạ/Giữ cho chúng tăng được bình yên mãi mãi trong công cuộc tu hành."

Bên dưới bệ thờ sư Hòa thượng Thích Trí Tâm có bia đá được dựng lúc trùng tu chùa năm 1937, trên đó có bản khắc bằng chữ Hán ghi nguyên văn sắc phong của Vua Thiệu Trị dành cho chùa. Tại án thờ hiện còn đôi câu đối cổ bằng thân cây dừa dài hơn 4m, nét chữ sơn son thếp vàng, lời văn đặc sắc. Chùa Phật Tổ là di tích kiến trúc nghệ thuật đã được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, ngày 24/11/2000.
Ngày nay, chùa Phật Tổ là một trong những trung tâm văn hóa tâm linh của tăng ni, phật tử tỉnh Cà Mau.

Theo Phật Giáo VN
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Huyền bí núi Văn núi Võ

Đứng trên đỉnh dãy núi Tam Đảo sẽ thấy hai ngọn núi Văn, núi Võ sừng sững giữa cánh đồng xã Ký Phú và Văn Yên. Tại đây, cả một vùng rộng lớn là núi đất duy chỉ có 2 ngọn núi bằng đá có liên quan đến vị anh hùng Lưu Nhân Chú - một trong 18 người dự Hội thề Lũng Nhai khi xưa. Người ta gọi đó là núi Văn - núi Võ, hai ngọn núi dưới chân Tam Đảo này chất chứa bao điều kỳ lạ.

< Núi Văn.

Long mạch mộ kết

Lịch sử đã ghi nhận Lưu Nhân Chú quê ở xã Thuận Thượng, tức xã Văn Yên và Ký Phú (Đại Từ - Thái Nguyên) ngày nay. Vùng đất lạ dưới chân Tam Đảo này từng một thời được mệnh danh là vùng đất thiêng, căn cốt long mạch của dãy Tam Đảo, kéo dài về tận núi Tản Viên, vùng Ba Vì (Hà Nội).

< Và ngọn núi Võ.

Theo lời kể của ông Lưu Sỹ Phiến - hậu duệ đời thứ 19 của anh hùng Lưu Nhân Chú. Thân sinh của tướng Lưu Nhân Chú là một người bí ẩn, cụ có 2 con chó săn và thường cho chúng vào rừng săn bắt cùng. Trong một lần vào rừng, cụ ngủ cạnh hai tảng đá lớn ở khu Miễu, chỉ một lúc sau mối đùn lên trùm khắp cơ thể.
Người nhà chia nhau đi tìm khắp nơi và phát hiện ngôi mộ kết. Các thầy địa lý cho rằng, đó là điềm lạ và khu vực đó là long mạch của dòng họ Lưu. Quả đúng như vậy, một thời gian sau, dòng họ Lưu xuất hiện người anh hùng Lưu Nhân Chú nổi danh khắp nước Nam.

Người Tàu thấy vậy liền cho người sang khu Miễu tìm ngôi mộ kết ấy để phá long mạch. Chúng đào một rãnh sâu giữa hai tảng đá và chôn than xuống dưới. Ngay sau đó, chính những kẻ phá hoại long mạch đã hộc máu mồm chết ngay tức khắc, máu nhuộm đỏ cả một con suối cạnh khu Miễu.

< Danh tướng Lưu Nhân Chú.

Sau này, hậu duệ dòng họ Lưu đã nhiều lần tìm đến khu Miễu với ý định hàn lại long mạch nhưng đào sâu bao nhiêu cũng không hết lớp than trấn yểm của người Tàu. Hiện tại, khu vực Miễu vẫn còn hai tảng đá hình ngai vàng và những rãnh sâu của lớp than trấn yểm năm xưa.
Dulichgo
Lưu Nhân Chú bị ám sát

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, năm 1416 Lưu Nhân Chú nghe danh tiếng của Lê Lợi đã tụ họp tại thánh địa Lam Sơn - Thanh Hoá và dự Hội thề Lũng Nhai ngay từ những ngày đầu khởi nghĩa thề quyết cùng nhau đánh đuổi giặc Minh xâm lược.

Năm 1427, Lưu Nhân Chú và Lê Sát đã mưu trí, dũng cảm chém được đầu Liễu Thăng tại ải Chi Lăng. Sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh kết thúc, Lê Lợi lên ngôi vua đã phong Lưu Nhân Chú chức Á thượng hầu để trông nom quản lý việc quân sự.

< Đồi Quần Ngựa - nơi Lưu Nhân Chú và nghĩa quân luyện binh mãi mã.

Năm 1433, Lê Thái Tổ mất, Lê Thái Tông lên ngôi khi mới 11 tuổi, Tư đồ Lê Sát ghen ghét nên ủ mưu sai người giết hại Lưu Nhân Chú. Đến khi vua Lê Thái Tông khôn lớn, tự mình cầm quyền, biết được nỗi oan của Lưu Nhân Chú bèn trị tội Lê Sát. Năm 1484, Lê Thánh Tông truy tặng Lưu Nhân Chú là Thái phó Vinh quốc công (Thái phó là một trong ba phụ chính đại thần tối cao của quốc gia).

Theo ông Lưu Sỹ Phiến, thời kỳ long mạch ở mộ kết khu Miễu bị phá không lâu thì tướng Lưu Nhân Chú bị ám hại. Để tưởng nhớ đến công lao to lớn của Lưu Nhân Chú, người dân hai xã Văn Yên, Ký Phú đã xây đền thờ ông dưới chân hai ngọn núi Văn, núi Võ và hàng năm đều tổ chức lễ hội vào mùng 4 Tết âm lịch.

Bí ẩn núi song toàn

Ông Lưu Sỹ Phiến cho hay, trước đây do nằm cách khá xa khu dân cư nên ít người lui tới núi Võ, ngay cả người dân xã Văn Yên chưa ai đi được tận cùng hệ thống hang động bên trong. Chính vì thế, hang động lưu giữ được hiện vật và nhiều dấu tích của tướng Lưu Nhân Chú. Những bí ẩn ấy càng trở nên thần bí khi tôn tạo lại đền thờ, một phần núi Võ đã sập xuống lấp đi cửa hang.

< Bàn thờ Lưu Nhân Chú.
Dulichgo
Đối diện với núi Võ là đồi Quần Ngựa với nhiều chứng tích là những hầm hào luyện tập, đánh trận của tướng Lưu Nhân Chú khi xưa, nhờ có rừng thông che chở nên ngọn núi được giữ lại nguyên vẹn. Bên cạnh đồi Quần Ngựa là hồ Tắm Ngựa, tương truyền khi xưa mỗi khi tập trận xong nghĩa quân của Lưu Nhân Chú thường cho ngựa xuống uống nước tắm mát ở hồ nước này. Không chỉ núi Võ, ngọn núi Văn thuộc xã Ký Phú còn sở hữu hệ thống hang động kỳ ảo hơn rất nhiều.

Ngọn núi Văn hiện tại nằm ngay cạnh trụ sở UBND xã Ký Phú. Ngọn núi như một chiếc bút giữa vùng chảo của dãy Tam Đảo. Ông Lỗ Văn Đường, Phó Chủ tịch xã Ký Phú cho hay, giữa núi Văn có một hang động, người dân gọi là hang dơi, nhưng rất ít người dám lên đó. Mùng 4 Tết Nguyên đán hàng năm diễn ra Lễ hội núi Văn, núi Võ để tưởng nhớ anh hùng dân tộc Lưu Nhân Chú thì mới có người vào hang tham quan.

< Các cửa hang núi Võ đã bị lấp kín.

Tuy nhiên, mọi người cũng chỉ đến vòng ngoài cửa chứ không dám đi sâu vào trong. Một số cụ cao niên cho biết, bên trong đó có một ao nước ngọt không bao giờ cạn với hệ thống nhũ thạch rất đẹp. Trước đây có đàn khỉ sinh sống bên trong nhưng rồi chúng đã bỏ đi khi cây cối thưa dần.

Trao đổi với chúng tôi, đại diện UBND xã Ký Phú cho hay, hiện đang có kế hoạch di chuyển trụ sở sang địa điểm mới để trả lại đất cho khu di tích. Đó cũng là cách để bảo vệ di tích và tưởng nhớ đến vị anh hùng dân tộc. Năm 1981, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ VH-TT&DL) đã công nhận khu di tích núi Văn, núi Võ và đền thờ Lưu Nhân Chú là Di tích cấp Quốc gia.

Hang động kỳ bí

Dẫn chúng tôi tham quan khu hang động trong lòng núi Võ, ông Lưu Sỹ Phiến cho biết, do nằm cách khá xa khu dân cư nên ít người lui tới, bản thân người dân xã Văn Yên chưa ai đi tận cùng hệ thống hang động trong núi Võ. Chính vì vậy, hang động lưu giữ hiện vật, dấu tích gì vẫn còn là điều bí ẩn. Đối diện với núi Võ là quần thể núi Quần Ngựa, hiện vẫn còn chứng tích những hầm hào luyện tập, đánh trận của danh tướng Lưu Nhân Chú khi xưa, nhờ có rừng thông che chở nên ngọn núi được giữ lại nguyên vẹn.
Dulichgo
Không chỉ núi Võ, người dân nơi đây cho biết, ngọn núi Văn thuộc xã Ký Phú còn sở hữu hệ thống hang động hoành tráng hơn. Đi bộ qua cánh đồng nằm xen giữa hai dãy núi, chúng tôi đến được chân được ngọn núi Văn. Trụ sở xã Ký Phú nằm ngay chân ngọn núi nên tôi có dịp được ông Lỗ Văn Đường, Phó Chủ tịch xã Ký Phú, kể cho nghe câu chuyện về hang động trên núi Văn.

< Cửa hang động trên núi Văn.

Ông Đường xác nhận, giữa núi Văn có một hang động, người dân gọi là hang dơi, song rất ít người lên đó, chỉ dịp mùng 4 Tết Nguyên Đán hàng năm, diễn ra Lễ hội núi Văn, núi Võ tưởng nhớ anh hùng dân tộc Lưu Nhân Chú mới có người vào hang tham quan. Tuy nhiên, mọi người cũng chỉ đến vòng ngoài cửa chứ ít đi sâu vào trong hang.

Nghe một số người từng vào hang kể lại thì trong đó có một ao nước ngọt không bao giờ cạn với hệ thống nhũ thạch rất đẹp. Ngày trước, tại đây có đàn khỉ sinh sống, chúng vẫn thường từ trên núi xuống ngắt lúa của bà con. Nhưng do cây cối trên rừng thưa dần nên lũ khỉ đã bỏ đi nơi khác. Hiện, xã chúng tôi đang di chuyển trụ sở sang địa điểm mới để trả lại đất cho khu di tích. Hy vọng, sau khi hoàn thành, nơi đây kết hợp với hồ Gò Miếu sẽ trở thành điểm tham quan du lịch quan trọng của huyện Đại Từ bên cạnh hồ Núi Cốc và di tích 27/7", ông Đường bộc bạch.

Theo sự hướng dẫn của ông Phó Chủ tịch xã Ký Phú, chúng tôi vạch những cây dại lần tìm tới khu hang động. Sau hơn 10 phút lần mò, hiện ra giữa lưng chừng ngọn núi đá vôi là một cửa hang hình tam giác rộng với những trầm tích nhũ vôi khá đẹp.
Nhưng do hang tối, lối đi vào nguy hiểm nên chúng tôi đành phải chiêm ngưỡng hang động từ phía bên ngoài.

Thiết nghĩ, việc khu quần thể hang động trên núi Văn và núi Võ chưa được nghiên cứu, khảo sát là điều đáng tiếc.

Theo An Ninh Thủ Đô, Nông Nghiệp VN
Du lịch, GO!

Đình làng Trung Nghĩa - Đà Nẵng

Đình làng Trung Nghĩa tọa lạc tại khu dân cư Trung Nghĩa, phường Hoà Minh, quận Liên Chiểu. Đình nằm trên khu đất cao của làng theo hướng Đông Nam, mặt trước đình nhìn ra là cánh đồng lúa. Đường đi vào đình có cây đa trăm tuổi rủ bóng mát tạo nên cho đình dáng vẻ cổ kính và linh thiêng và cũng mang đậm dấu ấn đặc trưng cho đình làng Việt Nam.

Đình làng Trung Nghĩa được xây dựng theo kiểu kiến trúc đình làng thế kỷ XIX và cũng giống như các ngôi đình khác trên địa bàn Đà Nẵng, đình làng Trung Nghĩa có bố cục không gian bên ngoài gồm bình phong, đến sân đình rồi đại đình, ngoài ra ở phía sau đình còn có mộ của thành hoàng bổn sứ, tiền hiền, hậu hiền và miếu âm linh thờ bà chúa thiên Y – A- Na. Bên cạnh đó còn có cổng và tam quan đình nhưng là mới được trùng tu xây dựng.

Từ cổng đình đến bình phong chúng ta phải đi qua tam quan đình . Bình phong  được xây bằng gạch sơn vàng  với hai trụ biểu hai bên cao 2m6, rộng 3m1 trên có gắn hình búp hoa sen cách điệu. Mặt trước bình phong đắp hình con  Hổ để  bảo vệ đình, mặt sau hình con Lân thể hiện sự linh thiêng cho ngôi đình. Cả hai hình đều được các nghệ nhân xưa thực hiện bằng nghệ thuật đắp nổi lắp ghép những mảnh sành sứ.

Qua khoảng sân rộng là đến đình. Đình Trung Nghĩa được  xây dựng với bố cục mặt bằng hình chữ nhật theo dạng ba gian bốn mái, lợp ngói âm dương, tường xây bằng gạch, cát, sạn, xi măng, tường dày 0.2m. Đình có chiều rộng 10m2, chiều dài 7m2.
Dulichgo
Kết cấu kiến trúc nghề thuật bên ngoài, mặt tiền ngôi  đình phía tả với nghệ thuật đắp nổi bằng sành sứ hình con Thanh Long, phía hữu có Bạch Hổ( còn được gọi là  Long Hổ Hội). Bộ cửa trước đây của ngôi đình được làm bằng gỗ mít theo dạng của bàng khoa nhưng do thiên tai và chiến tranh đã bị hư hại và sau này được thay bằng bộ của sắt sáu cánh màu vàng. Mái đình Trung Nghĩa  khi mới xây dựng lợp theo kiểu “ tầu đao lá mái”, lợp ngói âm dương.

Hiện tại  mái lợp bằng ngói mới  theo kiểu “tàu hộp” với trang trí trên nóc đình được ghép đắp nổi sành sứ hình “ lưỡng long chầu nguyệt”, bốn đầu mái là bốn con lân. Đình Trung Nghĩa được làm theo lối kiến trúc khung nhà gỗ. Ngôi đình được xây dựng trên cơ sở các vì liên kết với nhau bằng kẻ suốt. Sức nặng của toàn bộ ngôi đình rơi trên các chân tảng, tường nhà không phải là cơ sở chịu lực mà chỉ có tác dụng ngăn che nắng mưa. Các thành phần kiến trúc được liên kết lại với nhau nhờ một hệ thống mộng phức tạp, không dùng đinh, keo hay lạt buộc.

Với kết cấu theo dạng “liên kết kẻ suốt”. Cột, xuyên, trính đều được làm bằng gỗ mít… gồm bốn cột cái cao 3m32, đường kính 20cm, 12 cột quân cao 2m65, đường kính 0,19cm, 12 cột hiên cao 2m2, đường kính 0,18cm. Trên các đầu kèo chạm trổ đầu rồng, đuôi có hình hoa lá. Trên xà gồ còn ghi lại hàng chữ “ Thành Thái thập nhị niên”, tuế thứ Canh Tý cửu ngoạt Bính Tuất, Nhâm Thân, nhật bổn xã cấu đình, Thìn khắc thượng lương kiết nhật”. Dịch nghĩa: “ Ngày Nhâm Thân, tháng chín là tháng Bính Tuất, năm Canh Tý là năm Thành Thái thứ 12, bản xã dựng đình và gác đòn đông (thượng lương) đúng giờ tốt”.
Dulichgo
Cũng như các đình quê ngoài Bắc, đình Trung Nghĩa cũng là công trình kiến trúc cổ Việt Nam được hưởng một nền điêu khắc trang trí độc đáo. Tuy đình Trung Nghĩa được xây dựng từ thế kỉ XIX nhưng không vì thế mà điêu khắc trang trí của ngôi đình nghèo nàn. Trên các cột rường ta vẫn thấy khắc các hình rồng, phượng rất tinh tế uốn lượn. Trang trí trong một gian chính và hai gian phụ của đình gồm bàn thờ chính thờ thành hoàng bổn xứ, hai bàn thờ nhỏ hai bên thờ tiền hiền và hậu hiền.

Bàn thờ chính ở  gian giữa cao 1m, rộng 1m05, được xây bằng gạch, xi măng, trên bàn thờ đặt một bài vị bằng gỗ có ghi bằng chữ Hán “ Khai thánh đế quân đại đế”, xung quanh bàn thờ trang trí bông hoa cúc và hai con hạc hai bên, giữa có viết một chữ Hán “ Thần”, trên vẽ hình lưỡng long trân châu hai bên có hai câu đối. 

Đặc biệt trong đình Trung Nghĩa còn lưu giữ được 16 sắc phong còn nguyên dạng, có niên hiệu các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh,  Duy Tân, Khải Định.

Hàng năm tại Đình thường diễn ra lễ hôi mang đậm nếp sống văn hóa, là bộ phận gắn liền với nền văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam, nhắc nhở con cháu nhớ đến công ơn  những người  khai khẩn mở rộng đất đai. Đó là gốc rễ sâu sắc bền vững từ ngàn xưa của dân tộc ta. Ngày nay dù ở nơi đâu, họ tộc nào nhưng đã là con dân Trung Nghĩa thì luôn luôn nhớ đến ngày mồng 10 tháng 3. Bởi đó chính là ngày lễ hội - ngày các con cháu trở về giỗ tổ vị thành hoàng đã khai hoang lập ấp ra làng Trung Nghĩa ngày nay.

Lễ hội đình làng Trung Nghĩa thường được tổ chức vào ba ngày là mồng 8, mồng 9 và mồng 10 tháng 3  âm lịch hàng năm tại khuôn viên của đình để dân làng vui chơi giải trí và cúng tế những bậc tiền nhân có công khai hoang mở đất xây dựng nên làng. Đây cũng là thời điểm để những người con ly hương trở về quê cha đất tổ tưởng nhớ cội nguồn. Chính hội thường diễn ra vào ngày 10 tháng 3 và cũng giống như các lễ hội đình làng khác, lễ hội đình làng Trung Nghĩa cũng bao gồm phần lễ và phần hội.
Dulichgo
Phần lễ  thường được diễn ra vào sáng mồng 10 với các nghi thức thờ cúng  mang màu sắc tâm linh, các lễ vật và  quy trình tế lễ gắn liền với đặc thù của của đối tượng thờ cúng. Chư lễ ở đây mang hai nghĩa cơ bản là tế lễ và lễ giáo( lề thói ứng xử theo truyền thống, theo các quy phạm đạo đức đã được cộng đồng thừa nhận dựa trên lời dạy của thánh nhân). Tế lễ là những bài tế nữ quan và nam quan còn lễ giáo là đọc lại những lời răn dạy của các bậc thánh nhân cho con cháu nghe. Nội dung của lễ nhằm tưởng nhớ tôn vinh những vị tiền hiền có công khai phá mở mang ruộng đất cho  làng và cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu sự giúp đỡ, che chở, bảo trợ về mặt thần quyền cho sự thịnh vượng, yên bình của nhân dân trong làng.

Phần hội là phần mang tính sinh hoạt giải trí, làm sống lại các truyền thống sinh hoạt vui chơi đã từng ăn sâu bám rễ vào lối sống của người dân. Hội làng Trung Nghĩa  với các trò chơi dân gian nhu kéo co, đấu vật, chọi gà hay các tiết mục văn nghệ như hát bài chòi, hát  đối đáp…Bên cạnh đó là một số trò chơi thể thao do chức sắc trong đình đứng ra tổ chức đã thu hút đông đảo người dân đến vui chơi thi đấu và giải trí. Đó không chỉ là con dân trong làng mà cả những dân làng khác và khách thập phương nơi xa đến thắp hương cúng bái và vui chơi. Phần hội thường mang tính cộng đồng và hiếu khách.

Ngoài lễ hội chính diễn ra vào ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm thì tại  đây còn diễn ra các hình thức sinh hoạt dân gian khác như: Lễ vía bà Thiên Y- A- Na vào ngày 25/01 âm lịch. Lễ cúng “Thần Nông” cầu cho mưa thuận gió hòa bốn mùa tốt tươi diễn ra vào ngày 15.7 âm lịch.
Đình Trung Nghĩa đã được xếp hạng di tích Lịch sử-Văn hoá  cấp thành phố  ngày 23/12/2005.

Theo Cổng TTTP Đà Nẵng
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

Lăng cụ Nghè Sổ (Bắc Giang)

(BGĐT) - Trong hệ thống lăng mộ cổ trên địa bàn tỉnh, lăng cụ Nghè Sổ thuộc thôn Trâu Lỗ, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang) hiện còn lưu giữ những giá trị độc đáo về kiến trúc, nghệ thuật và dấu ấn lịch sử-văn hóa của một thời kỳ.

< Toàn cảnh Lăng cụ Nghè Sổ.

Lăng cụ Nghè Sổ được xây dựng năm 1937, đến nay còn bảo tồn nguyên vẹn các yếu tố gốc cấu thành di tích. Đây là nơi an nghỉ của cụ Nghè Sổ (Đình nguyên Nguyễn Đình Tuân, 1867-1941) quê ở làng Trâu Lỗ, tổng Mai Đình (nay là thôn Trâu Lỗ, xã Mai Đình).

Làng Trâu Lỗ có tên nôm là làng Sổ, vì vậy ông Nghè Nguyễn Đình Tuân được nhân dân trong vùng gọi là ông Nghè Sổ. Cụ là người đỗ đầu khoa thi Đình năm Tân Sửu 1901. Trong 180 thủ khoa nho học (những người đỗ đầu khoa thi Đình - Tiến sĩ) qua các triều đại phong kiến Việt Nam kéo dài từ năm 1075-1919, cụ Nghè Sổ là một trong 4 người của tỉnh Bắc Giang đỗ Đình nguyên - Tiến sĩ (cùng với Giáp Hải, Đào Sư Tích và Đoàn Xuân Lôi).

Thời nhà Nguyễn, cụ Nghè Sổ là người duy nhất của tỉnh Bắc Giang đỗ Đình nguyên, trong tổng số 43 Đình nguyên. Cụ có nhiều công trạng với dân với nước, là người sáng lập ra xã Tân Cương (nay là xã Tân Cương, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên) và cây chè Tân Cương nổi tiếng…
Dulichgo
Lăng cụ Nghè Sổ gồm các hạng mục công trình như nghi môn nội, nghi môn ngoại, khu mộ và nhà bia. Nghi môn ngoại được xây dựng theo dạng trụ biểu bằng gạch, trát vữa, phía trên cột trụ biểu đắp trang trí hình bốn con chim phượng chụm đuôi vào nhau, phía dưới tạo các hình lồng đèn, thân khắc chữ Hán.

Nghi môn nội gồm 4 cột trụ biểu, 2 cột trụ biểu phía ngoài cùng trên đỉnh đắp trang trí hình hai con nghê đang trong tư thế chầu vào trong, phía dưới tạo các ô lồng đèn, không trang trí hoa văn, thân cột trụ biểu để trống. Hai cột trụ biểu phía trong trên đỉnh đắp trang trí hình bốn con chim phượng chụm đuôi vào nhau, phía dưới trang trí hình rồng. Ở gần thân trụ biểu được tạo bốn ô hình lồng đèn, mặt ngoài đắp trang trí hình tứ linh (long, ly, quy, phượng).
Dulichgo
Hai cửa giả phụ của nghi môn nội được xây gạch, trát vữa gồm 2 tầng 8 mái. Tại các đầu đao cửa giả phụ đắp trang trí hình hoa văn thủy ba cách điệu. Phía dưới tầng mái thứ nhất, thứ hai cửa giả phụ được tạo ô hình chữ nhật, mặt ngoài đắp trang trí hình tứ linh.

Nhà bia được xây dựng độc đáo theo bình đồ kiến trúc kiểu chữ đinh gồm tòa tiền bia và hậu bia. Phía dưới tầng mái trên tạo 3 ô hình chữ nhật, ô chính giữa trang trí hình rồng, hai ô bên khắc chữ Hán, bên trái khắc chữ “Hữu”, bên phải khắc chữ “Mai” là tên tự của cụ Nghè Sổ. Phía trước hai gian hồi trổ hai ô thoáng hình hoa văn kỷ hà. Phía trong tòa tiền bia được xây dạng cuốn vòm, chính giữa đặt một tấm bia đá niên hiệu Bảo Đại thứ 5 (1930).

Hậu bia gồm một gian nhỏ. Các nét chạm khắc tinh tế trên đá muối như tượng voi, trên nghi môn, nhà bia về đề tài tứ linh, hoa lá cách điệu, vân mây… mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn đầu thế kỷ XX. Tại khu lăng còn lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật có giá trị như: 1 bia đá thời Nguyễn niên hiệu Bảo Đại thứ 5 (1930), 2 tượng voi đá muối, sắc phong...

Với những giá trị và ý nghĩa đặc biệt, Lăng cụ Nghè Sổ đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh. Đây là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của dòng họ Nguyễn và nhân dân địa phương.
Hằng năm, vào ngày 20 tháng 6 âm lịch, dòng họ, nhân dân trong thôn tổ chức lễ giỗ để tưởng nhớ công trạng của cụ đối với quê hương, đất nước.

Theo Phương Vy (Báo Bắc Giang)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

Đình làng Thuận Bài

Đình làng Thuận Bài trước đây thuộc làng An Bài tổng Thuận An, châu Bố Chánh. Dưới thời Minh Mạng, đình thuộc xã Thuận Bài phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Từ ngày hòa bình lập lại, đình thuộc xã Quảng Thuận, huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình. 

Du khách đi trên con đường thiên lý Bắc Nam, trước khi qua cầu Gianh, có thể dừng chân để ngắm một phong cảnh đẹp, phía Tây là dãy Trường Sơn hùng vĩ, dòng sông Gianh xanh ngắt bao quanh. Ẩn hiện trong màu xanh muôn trùng đó thấp thoáng mái đình giữa vòm lá của những vườn nhãn thơm ngon nhất vùng, phía Đông là cánh đồng rộng nối liền với những cồn cát chạy dài tựa như tấm bình phong che chắn trước biển cả. Làng Thuận Bài nằm cách cầu Gianh 2km về phía Bắc, là một làng quê phồn vinh và trù phú. Ngôi đình nằm ở vị trí trung tâm của làng trên một khoảng đất cao và bằng phẳng. 

Đình làng Thuận Bài là di tích lịch sử - cách mạng của vùng đất địa đầu Bắc sông Gianh. Trải qua các thời kỳ đấu tranh dựng nước và giữ nước, đình được nhân dân địa phương dựng vào nửa đầu thế kỷ XVI để ghi nhớ công lao của vị nhất tổ có công khai khẩn lập làng là Đường Quốc Công Trần Đạt. 
Dulichgo
Vào cuối thế kỷ XIV, Nhà Trần lâm vào tình trạng rối ren, Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần. Vì không chịu khuất phục nên một vị Tôn Thất nhà Trần là Trần Đạt đã chạy vào miền Trung đến bờ Bắc sông Gianh vỡ hoang lập nên làng An Bài. Đến năm 1418, Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa, Trần Đạt đã kịp thời ra Lam Sơn giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh thống nhất đất nước. 

Khi lên ngôi vua, Lê Lợi xét công ban thưởng, ông được vua ban cho tước Đường quốc công để ghi nhớ công lao. Đình làng Thuận Bài ngoài việc tưởng nhớ các vị tiền bối đã có công khai khẩn lập làng, còn là nơi vào các dịp lễ tết nhân dân trong vùng tập trung vui chơi, sinh hoạt lễ hội mang đậm màu sắc truyền thống.

Vào dịp tết Nguyên đán, tại sân đình, nhân dân tổ chức các hoạt động vui chơi như đánh đu, đánh cờ người, thi nữ công gia chánh... Ngày 7 tháng giêng hàng năm, dân làng tổ chức lễ cầu trời đất phù hộ cho con cháu đi làm ăn xa, các tiết thanh minh, lễ xá tội vong nhân, mừng mùa mới... đều được dân làng tổ chức tại sân đình. 

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương chống Pháp nhưng bị thất bại và bị bắt tại Minh Hóa, trên đường bị đưa vào Huế, đình Thuận Bài là nơi dừng chân cuối cùng của vua tại Quảng Bình.Trong cách mạng tháng Tám, đình là nơi dân làng tập trung nghe diễn thuyết, tập hợp lực lượng chuẩn bị giành chính quyền.

Cách mạng tháng Tám thành công, đình là nơi dân làng tập trung bỏ phiếu bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước ta, là địa điểm nhân dân tổ chức hưởng ứng quyên góp ủng hộ "Tuần lễ vàng", "Tuần lễ đồng", “Hũ gạo cứu đói”... giúp đỡ chính quyền cách mạng. Trong kháng chiến chống Pháp, đình là nơi che chở cho các cán bộ về hoạt động, là nơi tập trung quân của bộ đội về phối hợp cùng du kích địa phương đánh thắng trận tập kích đồn Mỹ Hòa, Thuận Bài...
Dulichgo
Trong thời kỳ chống Mỹ, đình làng trở thành một trong 12 trạm trung chuyển ở tuyến Bắc sông Gianh, là nơi tập trung hàng hóa để chuyển vào miền Nam. 

Ngoài ra, đình còn là điểm dừng chân của hàng ngàn lượt chiến sỹ trên đường vào Nam đánh giặc, là nơi che chở cho hàng nghìn lượt em nhỏ miền Nam sơ tán ra Bắc. Trong chiến dịch VT5, ngôi đình một lần nữa trở thành nơi tập kết hàng hóa… Hàng ngàn tấn gạo, đạn dược, thuốc men đã được tiếp nhận và bảo quản an toàn chu đáo trước khi vận chuyển vào Nam, góp phần đánh thắng Mỹ.

Lúc mới xây dựng, đình được làm bằng vật liệu tranh tre. Đến thế kỷ 19 (1850), đình được xây dựng lại theo kiểu kiến trúc Triều Nguyễn. Mặt bằng tổng thể của đình được bố trí theo hình chữ U có hệ thống tường rào bao quanh, mặt đình quay ra hướng chính Đông hai bên là tả vu, hữu vu. Tường mặt tiền được gắn với ba cổng dạng tam quan nhưng tách rời nhau tạo thành một cổng chính và hai cổng phụ đối xứng nhau.

Các cổng đều cuốn vòm, trên mái có đắp vữa lợp ngói âm dương. Tiếp theo cổng chính là bức bình phong có hai mặt đắp nổi hình quy an thần hổ phục dữ. Hai bên là hai cột nanh lưỡng nghê canh giữ và giám sát nghi lễ. Từ tam quan qua một khoảng sân rộng với hai nhà tả vu, hữu vu là vào trong cùng với các tuồng gỗ có hoa văn trang trí. Phần mái được lợp bằng ngói liệt, bờ nóc, bờ quyết được đắp thành ô hộc và có trang trí lưỡng long chầu nguyệt đắp nổi. Phần toà máng được xây bằng ba cửa vòm cuốn, trên các mặt tường trang trí bên trong hậu cung là các hoành phi câu đối. 
Dulichgo
Trải qua gần 200 năm tồn tại, trước sự huỷ diệt khốc liệt của chiến tranh và sự tàn phá âm thầm của thời gian, ngôi đình đã bị hư hỏng nhiều. Năm 1993, đình được tu bổ lại tương đối nguyên vẹn, phần hậu đình trên nền móng cũ. Riêng các công trình tả vu, hữu vu, gác chuông, gác trống hiện nay chỉ còn nền móng. 

Đình làng Thuận Bài là di tích gắn liền với những bước thăng trầm của lịch sử trên mảnh đất địa đầu Bắc sông Gianh. Là biểu tượng tiêu biểu cho nguồn gốc và truyền thống lịch sử của dân làng Thuận Bài, là nơi ghi dấu những chiến công của nhân dân Thuận Bài trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Ngoài ra, đình còn là một di tích văn hóa, gắn liền với phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam thông qua các sinh hoạt văn hóa mang đậm tính chất của cộng đồng làng xã. 

Du khách một lần đến Quảng Bình xin hãy dừng chân ghé lại nơi đây. Đến đây, các bạn sẽ thấy bồi hồi xúc động khi nhớ về những ngày tháng khốc liệt của chiến tranh. Hay sẽ được hòa mình trong sự êm dịu của thiên nhiên với những màu xanh của cỏ cây và dòng sông Gianh hiền hòa thơ mộng. Sẽ cùng đắm mình trong không khí vui tươi của những lễ hội và ấm áp trong tình cảm chân thật đầm ấm của người dân nơi miền quê hiền hòa và xinh đẹp này.

Theo CTTĐT Quảng Bình, ảnh Hội Thuận Bài Tương Tế
Du lịch, GO!